Thi cử: Con đường chính yếu để tiến thân
|
| Một cuộc thi của học sinh tiểu học Hà Nội mô phỏng thi Trạng Nguyên thời xưa. Ảnh: Lê Anh Dũng |
[2006-09-26] Có nhiều triết lý giáo dục, nhưng triết lý nào cũng phải nhằm mục tiêu sản xuất ra người có tài và có đức. Vấn đề là quan niệm thế nào là tài và đức. Trên bình diện triết lý, tức là bình diện tổng quát nhất, thì quan niệm tài và đức phải thoả đáng, phù hợp với mọi xã hội, bất kể chế độ chính trị của xã hội đó là gì, ở thời kỳ lịch sử nào.
GS Nguyễn Ngọc Lanh (Trường ĐH Y Hà Nội) đề cập tới triết lý giáo dục trong bối cảnh ngành GD-ĐT đang ráo riết với phong trào “nói không với gian lận trong thi cử”.
Gian lận trong thi cử diễn ra tràn lan ở mọi cấp học khiến nhiều người có bằng “thật” nhưng học lực không thật, thậm chí không đi thi vẫn kiếm được cái bằng gài vào hồ sơ cá nhân. Tình trạng này củng cố thêm quan điểm cho rằng chọn người không nên câu nệ bằng cấp.
Tuy nhiên, thi cử và bằng cấp phải sinh ra trong một xã hội có tổ chức cao để chọn người chính xác hơn.
Trong tương lai, nếu xã hội càng công bằng, dân chủ, văn minh, thì thi cử càng là con đường quan trọng nhất – nếu chưa muốn nói là duy nhất – cho bất cứ ai muốn tiến thân.
Mỗi bước tiến thân của cá nhân phải là một cuộc thi tuyển nghiêm túc, tức là thi một cách công bằng, dân chủ, văn minh.
Bằng cấp nước ta cao nhất là tiến sĩ. Vậy một vị đã là tiến sĩ có cần qua thi cử để tiếp tục tiến thân không? Câu trả lời là “có”, và “phải như vậy”, ví dụ khi ông tiến sĩ này muốn ứng cử giáo sư. Thủ tục để một tiến sĩ trở thành giáo sư chính là một kỳ thi nếu các quy định là thích đáng và tổ chức thực hiện một cách công bằng, dân chủ, văn minh.
Tiến thân
Chúng ta vẫn phê phán con đường tiến thân dưới thời phong kiến là quá chật hẹp và nghiệt ngã: đó là nhất nhất phải qua thi cử.
Phê phán thế không sai, vì để tuyển người vào bộ máy hành chính mà bắt thí sinh phải biết làm thơ, phú… như cách thi thuở xưa. Tuy nhiên, khi phê phán quá khứ nên cẩn thận kẻo mang tiếng là “chê lấy được”, nếu chê bai quá khứ chỉ là nhằm tán dương hiện tại.
Chúng ta biết rằng thời phong kiến sơ khai chưa có “thi”, chỉ có “cử”. Dân chúng cử ra những người mà họ cho là có tài để vua chúa sử dụng, ưu đãi. Những người này, do vậy, được gọi là cử nhân mà không phải qua bất cứ kỳ thi nào.
Ở mức cao hơn, việc trân trọng dâng những thứ quý giá lên vua được gọi là “tiến”. Nhãn Hưng Yên, bưởi Đoan Hùng, sâm cầm Hồ Tây… là những sản vật đã từng được “tiến” vua. Nếu người tài cao, đức trọng, được dân “tiến”, được vua chấp nhận, thì gọi là tiến sĩ mà không cần thi.
Chọn người tài bằng tiến và cử rõ ràng rất tương đối, do vậy trước sau cũng phải xuất hiện các kỳ thi để tuyển chọn tốt hơn, nhiều hơn. Xuất hiện thi cử đã ít nhiều mang tính công bằng, dân chủ và văn minh hơn trước đó. Để cho tiện, người ta không tạo ra những danh xưng mới mà cứ dùng tên gọi cũ cho những người trúng tuyển (vẫn là cử nhân và tiến sĩ, có thêm bậc tú tài – thấp hơn cử nhân), nhưng số lượng tuyển được đông đảo hơn, chất lượng đồng đều hơn, thứ bậc phân minh hơn.
Tân học
Nền học mà thực dân Pháp thực hiện khi họ đô hộ nước ta được các bậc tiền nhân gọi là tân học (để phân biệt với cựu học – tức nho học) hoặc Tây học (vì từ phương Tây tới).
Nội dung và mục tiêu của hai nền học này khác hẳn nhau, nhưng các cụ ta so sánh số năm phải học (để có thể đi thi) mà áp đặt cái tên quen dùng “của ta” cho bằng cấp tân học “của Tây”. Và gắn thêm từ “tây học” để phân biệt.
Thế là bằng cấp tây phải chấp nhận tên gọi của bằng cấp ta. Do vậy, nước ta có “tú tài tây học”, “cử nhân tây học” và “tiến sĩ tây học”. Khi các kỳ thi nho học bị bãi bỏ hẳn (1918), dân ta vẫn dùng khá lâu các tên gọi trên vì cho đến khi đó các cụ tú tài, cử nhân và tiến sĩ nho học vẫn còn sống, còn cần phân biệt. Khi tôi vào trung học còn thấy một cụ “cử nhân ta” (cụ Trần Văn Giáp) dạy chữ Hán cho học sinh, bên cạnh các vị “tú tài tây” dạy chúng tôi Pháp văn và các môn khác.
Một học sinh từ bậc tiểu học đến bậc tiến sĩ rõ ràng phải qua rất nhiều kỳ thi. Vấn đề là cách thức thi, nội dung thi và thi theo mục tiêu nào để chọn đúng người cần chọn và để hướng dẫn cách học cho những người sắp đi thi. Lợi ích to lớn hoặc lãng phí khổng lồ của giáo dục chính là ở đây. Nếu thi cử phù hợp thì học xong tiểu học vẫn ứng dụng tốt những điều đã học vào cuộc sống; nếu không thế thì học xong tú tài hay cao hơn vẫn lãng phí tuổi xuân, công học, công dạy, công đẻ, công nuôi.
Thi thế nào, học thế ấy. Nếu cách thức thi đòi hỏi thí sinh óc suy luận thì thầy và trò buộc phải dạy và học theo cách suy luận. Nếu nội dung thi đòi hỏi thí sinh phải có những kỹ năng cần thiết cho cuộc sống (ví dụ, kỹ năng diễn ý, kỹ năng giải quyết tình huống, giải quyết vấn đề…) họ sẽ tự biết phải học thế nào và họ sẽ đòi ông thầy dạy họ như thế. Ngoài ra, nếu xác định được chính xác mục tiêu giáo dục (nhờ một triết lý đúng), thì sản phẩm của thi cử sẽ đáp ứng tích cực các yêu cầu để xã hội tiến lên.
Triết lý giáo dục
Có nhiều triết lý giáo dục, nhưng triết lý nào cũng phải nhằm mục tiêu sản xuất ra người có tài và có đức. Vấn đề là quan niệm thế nào là tài và đức. Trên bình diện triết lý, tức là bình diện tổng quát nhất, thì quan niệm tài và đức phải thoả đáng, phù hợp với mọi xã hội, bất kể chế độ chính trị của xã hội đó là gì, ở thời kỳ lịch sử nào.
Xin đơn cử một ví dụ về triết lý giáo dục mà tôi thích, vì sự đơn giản và tổng quát của nó: Giáo dục không nhằm tạo ra những công dân mẫu mực cho xã hội sử dụng mà phải là những công dân nhìn ra những bất cập của xã hội, muốn khắc phục và có năng lực khắc phục để cải tạo xã hội.
Một nền giáo dục, dù lạc hậu, vẫn có một số sản phẩm nào đó đạt tiêu chuẩn nói trên, nhưng mà con số “cầu may” và lẻ tẻ này chỉ có thể có tác dụng rất nhỏ đối với sự tiến bộ chung, ấy là chưa kể số này có thể trở thành nạn nhân của sự trì trệ chung. Phải có một triết lý tích cực thì giáo dục mới có sản phẩm tích cực, đủ cả về lượng và chất để đẩy nhanh tiến bộ xã hội.
Tôi cho rằng triết lý này đúng ở mọi xã hội. Người nhìn ra những bất cập của xã hội chính là người nhạy cảm với những gì chưa “công bằng, dân chủ, văn minh” và do vậy, muốn khắc phục chúng. Đó là đức. Họ có năng lực cải tạo xã hội theo cách hiệu quả nhất để xã hội tiến lên. Đó là tài.
Tài và đức của một người có thể biểu hiện từ thấp đến cao, nhưng đều là tài, đức. Từ một thanh niên giỏi võ dám hy sinh tính mạng khi chống ác thú bảo vệ dân làng, cho tới những vị danh tướng chống ngoại xâm hay những bậc kinh bang tế thế khiến dân giàu nước mạnh… Mọi cấp, mọi vị trí trong xã hội đều cần người tài đức khác nhau về mức độ, phụ trách.
Muốn tiến thân, phải thi
Xã hội hiện đại không thể trông vào những người tài đức bẩm sinh vì số này rất hiếm, lại dễ bị mai một. Một thiên tài piano nhưng sống ở vùng hẻo lánh, cả đời không có dịp tiếp xúc với đàn thì sẽ ra sao?
Do vậy, xã hội phải đào tạo được nhân tài cho mình và cách duy nhất là qua thi tuyển, thi và thi, để từng bước tiến thân. Cạnh tranh lành mạnh là biểu hiện của một xã hội lành mạnh.
Một người nỗ lực bản thân để có tài và có đức nếu được xã hội nhận ra mà đặt vào địa vị phù hợp để phát huy tài năng thì đây là một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Nó có sẵn nội lực để phát triển.
Những người tài rất cao, đức rất trọng họp thành cái gọi là “tinh hoa” của đất nước (các cụ ta ngày xưa gọi là “nguyên khí quốc gia”) bất kể trước đó họ xuất thân ra sao, từ giai cấp hay thành phần nào. Chỉ khối tinh hoa này mới đủ bản lĩnh chọn và sử dụng người tài đức ở cấp thấp hơn và bồi dưỡng để có lực lượng thay thế mình.
Một xã hội không có cơ chế thích hợp để phát hiện người tài rõ ràng là xã hội “có vấn đề”, ít nhất là “có vấn đề” trong cơ chế thi cử, tuyển chọn. Tệ hơn nữa, nếu người tài bị người bất tài lãnh đạo thì đó là xã hội không công bằng, không dân chủ, không văn minh. Tệ nhất là một đất nước mà người bất tài đắc thế, nghênh ngang, hợm hĩnh, người tài hẩm hiu, mai một, thì đây là xã hội đang thoái hoá.
Mặt khác, dù là công bằng, dân chủ, văn minh thật sự, vẫn có tình trạng không một xã hội nào có thể đãi ngộ đủ cho người tài.
Đã có người tính rằng một nhà bác học có giải thưởng Nobel hay một cầu thủ siêu sao lẽ ra phải hưởng đãi ngộ vật chất gấp trăm hay ngàn người lao động đơn giản, nhưng thực tế họ chỉ được trả gấp 50 hay 100 lần, thậm chí chỉ 30 lần. Bù lại phần thiếu hụt, xã hội chỉ còn cách tôn vinh nhân tài tuỳ theo mức độ cống hiến và đặt họ vào vị trí cao. Xã hội nào làm như vậy thì đó là xã hội tiên tiến. Xã hội đó sẽ không tuyển chọn người tài đức theo thành phần giai cấp, lý lịch, công trạng.
Tôn vinh những nhân tài giả mạo thì khỏi nói cái hại tới mức nào. Do vậy, người tài vẫn phải thi, vẫn phải lấy phiếu tín nhiệm định kỳ (cũng là thi); và mỗi lần cất nhắc phải là một lần thi mới.
Một thứ trưởng lên bộ trưởng cũng phải thi; cố nhiên cách thi và nội dung thi không giống học sinh thi tốt nghiệp; trong đó hiệu quả, sáng kiến trong quá trình làm thứ trưởng cũng là một phần của khảo thí. Những thủ tục để một tiến sĩ trở thành một giáo sư, như trên đã đề cập, sẽ được coi là thích đáng, nếu nó thật sự là một kỳ thi đúng nghĩa, không để những “đồ giả” lọt qua.
Một người học chủ yếu ở “trường đời” (không có bằng cấp gì ghê gớm) nhưng kinh doanh rất giỏi; liệu đây có phải trường hợp tiến thân mà không cần qua thi cử? Không đúng. Không loại trừ sự may mắn và năng khiếu bẩm sinh, thì một nhà kinh doanh nếu thành công thực chất là đã trải qua một cuộc thi rất lâu dài, nghiêm khắc ở thương trường, với vô số bất trắc. Thông thường, số thất bại trong kinh doanh vẫn đông đảo hơn số thành công, nói lên sự nghiệt ngã của quy luật đào thải. Thi không “đậu” ở thương trường đồng nghĩa với mất trắng cơ nghiệp. Người chấm thi cho họ là đông đảo khách hàng, rất khe khắt để khỏi thiệt hại túi tiền do mồ hôi mà kiếm được. Đã thi là bình đẳng giữa những thí sinh, giữa tư doanh và quốc doanh. Cuộc thi này đang tiếp tục, không kém gay gắt và cái tối hậu quyết định là lợi ích của người mua hàng, mua dịch vụ. Nếu quan niệm như vậy thì người đề xướng một phong trào cũng là người dấn thân vào một cuộc thi lớn.
Ứng cử và bầu cử lại càng là một cuộc thi, trong đó các ứng cử viên là thí sinh, nghĩa là buộc phải trình bày năng lực (tài và đức) của mình sao ban giám khảo thấy rằng họ phù hợp với vị trí mà họ muốn ngồi vào. Còn hội đồng giám khảo cố nhiên là đông đảo các cử tri. Họ có quyền chất vấn, bàn bạc, chọn lựa. Bỏ phiếu mà chưa được chất vấn, bàn bạc, trao đổi… thì đó là cuộc thi hình thức, giám khảo hình thức, rất không công bằng dân chủ, văn minh. Không cẩn trình bày năng lực mà vẫn yên trí trúng tuyển thì đây là kỳ thi rất kỳ quặc, khó quan niệm.
Tóm lại, một biểu hiện dễ kiểm tra nói lên sự công bằng, dân chủ, văn minh của một xã hội là bất cứ ai muốn tiến thân trong xã hội đó đều phải qua những kỳ thi thích hợp, được tổ chức một cách công bằng, dân chủ, văn minh.
“Quốc Tử Giám thuở xưa chỉ chọn lựa những người đã đậu cử nhân loại giỏi vào học, để chuẩn thi tiến sĩ. Hàng ngàn người được vào học (gọi là giám sinh) mà sau 3 năm dùi mài kinh sử chỉ có vài chục vị đậu tiến sĩ. Do vậy, ngày nay không nên dùng Quốc tử giám làm nơi tuyên dương cử nhân (dù là xuất sắc), thậm chí mới là học sinh trúng tuyển đại học với số điểm cao. tuyên dương ở Quốc Tử Giám nên là đối tượng cao hơn thế”
Tác giả: Nguyễn Ngọc Lanh (ĐH Y Hà Nội)


























