hoangvinh

hoangvinh’s Blog

Archive for Tháng Mười Hai, 2007

Cái bẫy của khổ đau

Đăng bởi Hoàng Vinh on Tháng Mười Hai 31, 2007

 

Đức Phật biết rằng sự chạy đuổi không mỏi mệt theo hạnh phúc trong dục lạc thế gian khiến chúng ta bị trói buộc vào cái vòng không cùng tận của nhân và quả, của yêu và ghét.

Mỗi ý nghĩ, lời nói hay hành động là nhân đưa đến quả, rồi quả ấy lại trở thành một nhân khác. Để chỉ cho chúng ta thấy cái vòng khổ đau đó vận hành như thế nào, Đức Phật đã giải thích:

Do duyên thọ, di sinh; do duyên ái, tìm cầu sinh; do duyên tìm cầu, lợi sinh; do duyên lợi, quyết định sinh; do duyên quyết định, tham dục sinh; do duyên tham dục, đắm trước sinh; do duyên đắm trước, chấp thủ sinh; do duyên chấp thủ, hà tiện sinh; do duyên hà tiện, thủ hộ sinh; do duyên thủ hộ, phát sinh một số ác, bất thiện pháp như tranh đấu, tranh luận, đấu khẩu, khẩu chiến, ác khẩu, vọng ngữ. (Kinh Trường Bộ, Hoà Thượng Thích Minh Châu, NXB Tôn Giáo – 2005, trang 517).

Mỗi chúng ta đều trải qua những giai đoạn của vòng luân chuyển này trong đời sống hàng ngày. Thí dụ đang ở trong siêu thị, bạn nhìn thấy một chiếc bánh trông rất ngon với nhân màu đỏ, kem trắng điểm lên trên. Đó là chiếc bánh duy nhất còn lại. Dầu chỉ ít phút trước đó, tâm bạn thanh tịnh, tự tại, thì khi nhìn thấy cảnh này, mà Đức Phật gọi là “sự tiếp xúc giữa các căn và các trần”, tâm khởi lên những suy tưởng và cảm thọ khoái lạc.

Rồi tham muốn phát sinh từ lạc thọ. “Mmmm…bánh dâu,” bạn tự nhủ, “với kem trứng đánh nổi phía trên”. Tâm sẽ chạy đuổi theo và khai triển những ý nghĩ khoái lạc. Bánh dâu ngon lắm! Thơm biết chừng nào! Kem trứng kia tan trong miệng hẳn là rất tuyệt vời! Một quyết định tiếp theo sau: “Tôi muốn ăn một chiếc bánh đó”. Rồi sự bám víu (đắm trước) phát sinh: “Chiếc bánh đó là của tôi”. Có thể bạn sẽ nhận ra một sự bất ổn khi tâm bạn do dự trong chốc lát khi nó nghĩ đến những hậu quả tiêu cực của cái bánh đối với túi tiền hay vòng eo của bạn.

Bỗng nhiên bạn nhận ra có ai đó cũng ngưng lại ở quầy bánh và đang ngắm nghía chiếc bánh. Cái bánh của bạn! Bị chế ngự bởi lòng hẹp hòi, bạn chộp ngay chiếc bánh, tiến ra quầy thanh toán trong khi người khách kia trừng mắt phản đối. Một diễn biến tiếp theo, dầu thông thường khó xảy ra, là vị khách hàng kia đuổi theo bạn đến tận chỗ đậu xe, cố gắng giật cái bánh lại, hãy tưởng tượng biết bao nhiêu hành vi bất thiện có thể xảy ra – có thể là chửi rủa nhau hay đánh nhau. Nhưng ngay cả khi không có một sự đối đầu trực tiếp nào, hành động của bạn cũng khiến người khác phát sinh những tư tưởng tiêu cực và nhìn bạn như là một người tham ăn. Như thế là tâm bình an của bạn đã bị huỷ diệt.

Một khi tham ái đã phát khởi trong tâm, thì không thể tránh khỏi có những hành động ích kỷ, hẹp hòi theo sau. Trong khi chạy đuổi theo bất cứ hạnh phúc nhỏ nhoi nào – một miếng bánh dâu – chúng ta cũng có thể hành động thô bạo và xém nữa tạo ra kẻ thù. Khi lòng tham ái là đối với một điều gì đó quan trọng hơn, như của cải, tài sản của người hay hành động tà dâm thì hậu quả còn tai hại hơn, bạo lực càng nghiêm trọng hơn và những đau khổ triền miên có thể xảy ra.

Nếu có thể đảo ngược lại vòng quay, bắt đầu từ những hành động tiêu cực của chúng ta đi ngược trở lại từng bước từng bước đến các nguyên nhân tâm lý và sinh lý, thì ta có thể đoạn trừ khổ đau tận gốc ngọn của nó. Khi lòng ham muốn, sự bám víu đã được đoạn trừ – hoàn toàn bị xoá bỏ – thì hạnh phúc mới được đảm bảo. Có thể chúng ta chưa biết phương cách để đạt được một điều như thế, nhưng khi đã nhận ra việc phải làm, là chúng ta đã bắt đầu cuộc hành trình của mình.

Giờ thì bạn có thể hiểu tại sao chúng tôi nói rằng hạnh phúc thật sự chỉ đến khi tham ái đã được đoạn diệt. Ngay nếu như ta có nghĩ rằng việc đạt được hạnh phúc cao thượng nhất là không thực tế, thì việc giảm thiểu nó cũng đem lại nhiều lợi ích cho chúng ta. Càng có thể buông bỏ được lòng tham ái, thì ta càng dễ dàng cảm nhận được hạnh phúc hơn. Nhưng làm thế nào để giảm bớt lòng tham ái? Chỉ ý nghĩ làm giảm thiểu lòng ham muốn – nói chi đến việc đoạn diệt nó – cũng đã có thể khiến bạn thối chí. Nếu bạn biết rằng chỉ dùng ý chí để đẩy lùi ham muốn là hoài công, thì bạn rất đúng. Đức Phật đã đưa ra một giải pháp tốt đẹp hơn: đó là từng bước tu tập theo Bát chính đạo.

Phương cách phát triển từng bước theo con đường của Đức Phật ảnh hưởng đến mọi khía cạnh của đời sống bạn. Tiến trình này có thể bắt đầu bất cứ lúc nào, ở bất cứ nơi đâu. Bạn có thể bắt đầu từ chỗ của bạn và tiến tới, từng bước một. Mỗi sự thay đổi mới tốt đẹp hơn trong hành vi hay hiểu biết đều dựa trên các bước đã qua.

Trong số những người đã được nghe Đức Phật thuyết pháp, có những vị với tâm dễ dàng tiếp thu đến nỗi họ có thể đạt được hạnh phúc viên mãn ngay sau khi nghe những lời hướng dẫn tu theo từng bước của Đức Phật lần đầu tiên. Một số ít đã quá sẵn sàng đến nỗi tuy vừa nghe qua giáo lý siêu việt – Tứ thánh đế – thì tâm họ đã hoàn toàn được giải thoát.

Nhưng phần đông các đệ tử Phật phải cố gắng thực hành các lời dạy, thấu triệt từng bước trước khi chuyển sang bước tiếp theo. Nhiều vị phải mất hàng năm để vượt qua những chướng ngại trong sự hiểu biết trước khi họ có thể tiến lên một bậc cao hơn của sự tìm hiểu.

Phần đông chúng ta phải mất rất nhiều công sức để tự tháo gỡ mình ra khỏi những hành vi hay thái độ tự hại mình và hại người đã được hình thành qua bao năm tháng. Chúng ta phải chậm rãi bước theo con đường tu tập từng bước của Đức Phật với rất nhiều kiên nhẫn và khích lệ. Không phải ai cũng có thể thấu triệt mọi thứ ngay lập tức. Đến với sự phát triển tâm linh, tất cả chúng ta đều mang theo những kinh nghiệm quá khứ riêng và mức độ dốc tâm khác nhau.

Đức Phật là một vị thầy tinh tế tuyệt vời. Ngài biết rằng chúng ta cần có những hiểu biết căn bản rõ ràng trước khi có thể tiếp thu những giáo lý cao siêu hơn. Thuyết Bát chánh đạo đưa đến hạnh phúc của Ngài gồm có ba giai đoạn được xây dựng dựa lên nhau: Giới, Định và Tuệ.

Giai đoạn đầu tiên, giới luật, bao gồm việc chấp nhận một số giá trị cơ bản và sống dựa theo chúng. Đức Phật hiểu rằng sự suy nghĩ, nói năng và hành động đúng theo giới luật là những bước căn bản cần phải có trước khi tiến đến sự phát triển tâm linh cao hơn. Nhưng dĩ nhiên là chúng ta phải có môt ít trí tuệ để biết rõ đạo đức là gì. Vì thế Ngài bắt đầu bằng cách giúp chúng ta vun trồng cấp bậc cơ bản của Chính kiến (bước thứ nhất) và Chính tư duy (bước thứ hai). Những khả năng tâm linh này giúp chúng ta phân biệt giữa ý nghĩa và hành động đạo đức hay vô đạo đức, giữa những hành động thiện với những hành động làm hại mình và hại người xung quanh.

Khi chính kiến đã phát triển, chúng ta có thể bắt đầu đem sự hiểu biết mới mẻ của mình ra áp dụng bằng cách thực hành Chính ngữ (bước thứ ba), Chính nghiệp (bước thứ tư), và Chính mạng (bước thứ năm). Những giai đoạn thực hành các hành động đạo đức tốt đẹp giúp tâm ta cởi mở, giải thoát khỏi các chướng ngại, hoan hỷ và tự tin. Khi các chướng ngại từ những hành động tiêu cực bắt đầu phai mờ đi thì định mới có thể phát sinh.

Định có ba giai đoạn. Đầu tiên là Chính tinh tấn (bước thứ sáu), giúp tâm tập trung vào từng bước trên con đường đạo. Những sự cố gắng như thế đặc biệt cần thiết khi nhiều tư tưởng bất thiện khởi lên trong tâm khi chúng ta ngồi thiền. Tiếp theo là Chính niệm (bước thứ bảy). Muốn có tâm chính niệm đòi hỏi ta phải có sự chú tâm toàn vẹn từng phút, để ta có thể kiểm soát được sự biến đổi của tâm pháp. Chính định (bước thứ tám) cho phép chúng ta trụ tâm không gián đoạn trên một đối tượng hay một ý nghĩ nào đó. Vì đó là một trạng thái tâm tích cực, không sân hận hay tham luyến, Định mang đến cho ta một sức mạnh tâm linh mà ta cần để có thể nhìn thấu đáo hoàn cảnh thật sự của mình.

Với giới luật làm nền tảng, định sẽ phát sinh. Do có Định, giai đoạn thứ ba trên con đường của Đức Phật – trí tuệ – sẽ phát triển. Điều này mang chúng ta trở lại với hai bước đầu tiên trên con đường: Chính kiến và Chính tư duy. Chúng ta bắt đầu cảm nghiệm trí tụê bùng vỡ trong các hành động của mình. Chúng ta nhận ra mình đã tự tạo đau khổ cho bản thân như thế nào. Chúng ta nhận ra bằng chứng ý nghĩ, lời nói, và hành động của mình, ta đã tự làm tổn thương bản thân và người khác như thế nào. Chúng ta nhận ra những sự giả dối của mình và đối diện với cuộc đời như nó thực sự là. Trí tuệ là ngọn đèn sáng soi cho chúng ta con đường thoát khỏi vòng trói buộc của khổ đau.

Dầu tôi đã trình bày con đường của Đức Phật như là một chuỗi của những giai đoạn liên tục nhau, thực ra nó vận hành theo một vòng tròn. Giới, Định, và Tuệ luôn hỗ trợ, phát triển lẫn nhau. Mỗi bước trong Bát chính đạo đều củng cố, phát huy các bước còn lại. Khi bạn bắt đầu thực hành cả quá trình, mỗi bước sẽ lần lượt mở ra và mỗi hành động thiện hay tuệ giác sẽ là động lực đưa ta đến bước kế tiếp. Trên bước đường tu tập đó, bạn sẽ có nhiều chuyển đổi, nhất là khuynh hướng đổ lỗi cho người khác về sự bất hạnh của mình. Với từng bước rẽ, bạn sẵn sàng để chấp nhận trách nhiệm đối với ý nghĩ, lời nói và hành động có chú ý của mình nhiều hơn.

Thí dụ, khi bạn áp dụng trí tụê ngày càng phát triển của mình để liễu ngộ hành động đạo đức, bạn sẽ nhận thấy giá trị của tư tưởng và hành động đạo đức một cách sâu sắc, dẫn đến những sự thay đổi càng nhanh chóng hơn trong cách bạn hành động. Tương tự, khi bạn có thể nhìn thấy rõ ràng hơn trạng thái tâm nào là hữu ích và trạng thái tâm nào bạn cần buông bỏ, thì bạn sẽ đem sự tinh tấn của mình áp dụng đúng chỗ hơn, và kết quả là tâm định của bạn trở nên sâu lắng hơn và tuệ giác sẽ được phát triển.

HENEPOLA GUNARATANA (Theo Văn hóa Phật giáo)

Đăng trong Phật giáo | Leave a Comment »

Tràng chuỗi lo âu

Đăng bởi Hoàng Vinh on Tháng Mười Hai 30, 2007

Cầm lên một tràng chuỗi niệm Phật, và lập tức bạn sẽ cảm thấy ngay cái cảm giác rất dễ chịu trong tay mình. Điều ấy cũng có mặt với tất cả mọi xâu chuỗi cầu nguyện trong những truyền thống của các tôn giáo khác. Trước hết, đó là một cảm giác làm an dịu tâm hồn, mà dường như nó chỉ tăng lên khi những hạt chuỗi trở nên trơn láng và đậm màu hơn theo với thời gian sử dụng. Và tiếp theo là cái biểu tượng của nó – một sự liên kết, nối liền với lại một truyền thống rất xa xưa. Lần qua những hạt chuỗi trên tay là bạn đang tiếp xúc với lại một phương pháp thực tập cổ truyền. Những ngón tay của bạn đang nâng niu những hạt chuỗi ấy trong giây phút này, và mai sau, lại sẽ có những ngón tay khác tiếp nối công việc ấy, khi bạn đã đi rồi.

Tràng chuỗi cũng được xem như là một phần của chiếc y. Nó được mang quanh cổ hoặc ở nơi tay, sau đầu tròn áo vuông thì xâu chuỗi cũng là một biểu tượng rõ rệt nhất của một người Phật tử, đặc biệt là cho các cư sĩ. Lúc ban đầu, thật ra, xâu chuỗi được sáng tạo ra là để cho người cư sĩ sử dụng. Ngày nay, ta thấy người tu sĩ cũng thường mang theo, nhưng thật ra nếu đi ngược lại nguồn gốc ta sẽ khám phá ra rằng, tràng chuỗi là một phương cách giúp ta mang sự thực tập trong tu viện ra áp dụng vào một cuộc sống đầy giới hạn và thách thức ở ngoài đời.

Trong Phật giáo, những tràng chuỗi xuất hiện mục đích không phải là để cho các tu sĩ sử dụng. Trong kinh có một câu chuyện rất phổ biến về nguồn gốc của nó,

“Có lần vua Vaidunya sai sứ giả đến thưa lên với Phật:

Lạy đức Thế Tôn, nước chúng con là một nước vùng biên thùy, nhiều năm giặc giã, ngũ cốc đắt đỏ, tật dịch tràn lan, nhân dân đói khổ, chúng con thường không nằm yên được. Chúng con được biết Pháp tạng của Như-lai rất rộng rãi, sâu xa, đáng tiếc, chúng con vì có những việc lo buồn như thế, nên không tu hành được. Chúng con kính mong đức Thế Tôn đặc biệt rủ lòng thương xót chúng con, cho chúng con pháp yếu gì, để chúng con ngày đêm có thể tu hành được dễ dàng và trong đời mai sau xa lìa được mọi khổ não.’

Đức Phật bảo sứ giả về thưa với nhà vua rằng: nếu nhà vua muốn diệt được phiền não chướng, báo chướng, nên xâu một chuỗi tràng một trăm tám hạt bằng hạt cây tra (mộc-hoạn-tử) và thường đem theo mình; khi đi, khi ngồi, khi nằm thường nên chí tâm, không phân tán ý, xưng danh hiệu: Phật-đà, Đạt-ma, Tăng-già, mỗi lần là lần qua một hạt cây tra. Cứ như thế, lần lượt qua hạt này đến hạt khác” (Kinh Mộc Hoạn Tử, Thích Tâm Châu dịch).

Và Phật dạy, nếu nhà vua cứ thực tập như vậy thì ngài sẽ chấm dứt được hết mọi phiền não.

Đó là câu truyện cổ nói về nguồn gốc của tràng chuỗi, và rõ ràng là sự thực tập ấy có ý định dành cho những ai chưa buông bỏ được những lo âu, phiền muộn của một đời sống thế tục, chứ không phải dành cho các vị đang sống trong tăng đoàn của Phật. Và sau này, tràng chuỗi cũng được cả giới tu sĩ sử dụng, điều này có lẽ nói lên được cái năng lượng nhiệm mầu của chúng, có một công năng làm an dịu những lo âu của tất cả mọi người, dù chúng ta là tu sĩ hay cư sĩ. Trong một buổi phỏng vấn, khi được hỏi, ngay chính đức Đại-lai Lạt-ma cũng công nhận rằng Ngài cũng còn rất dính mắc với lại xâu chuỗi của Ngài!

Sau gần ba mươi năm sử dụng và làm những tràng chuỗi cho nhiều truyền thống tôn giáo khác nhau, tôi đi đến một kết luận đơn giản này, là Tất cả những tràng chuỗi đều là những chuỗi lo âu – từ tràng hạt mân côi của đức Giáo Hoàng, cho đến những xâu chuỗi đeo cổ tay bình thường của người Phật tử, hay không Phật tử, cũng đều thế. Trong mọi truyền thống tôn giáo, người ta sẽ nói với bạn rằng, những tràng chuỗi của họ là dùng để cầu nguyện – để tiếp nhận một quyền năng cao lớn hơn, tập trung tâm ý, để tu tập tâm linh. Lẽ dĩ nhiên đó là một sự thật ta không hề chối cãi, nhưng nó không phải là mục đích chánh của xâu chuỗi. Tràng chuỗi là cho những lo âu của ta. Chúng đáp ứng cho một nhu cầu rất cơ bản của con người, mà thật ra nó còn có mặt trước một ý thức về tôn giáo nữa, đó là những lo âu của mình. Xâu chuỗi của Phật giáo công nhận điều ấy. Nó là một phương tiện giúp ta đối diện với những nỗi lo lắng của mình, nó phối hợp giữa một đức tin vào một cái gì huyền bí với lại những hành động lặp lại, giúp ta mang lại một sự an tĩnh cho thân và tâm. Sự khác biệt giữa xâu chuỗi của Phật giáo và những tràng chuỗi của Tây phương chỉ đơn giản là các ý nghĩa và biểu tượng về những tràng hạt của nó mà thôi.

Một xâu chuỗi của Phật giáo thường gồm có 108 hạt, mỗi hạt tượng trưng cho một vô minh, một phiền não mang lại khổ đau cho đời người. Người ta thường hỏi về con số 108 này, mặc dù sự tính toán hơi rắc rối một chút, nhưng với cái nhìn của Phật giáo thì nó hoàn toàn rất có ý nghĩa. Có sáu loại phiền não sanh lên khi ta tiếp xúc với các giác quan của mình, như là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý. Và những phiền não này được tiếp nối nhau qua ba thời là quá khứ, hiện tại và tương lai, và như vậy là ta có con số 18. Nhân nó lên với hai trạng thái tâm thức, thiện và bất thiện, và rồi ta lại nhân thêm với ba loại cảm thọ phát sinh khi ta có sự tiếp xúc là lạc, khổ và vô ký – 6 x 3 x 2 x 3 – ta sẽ có con số 108. Thật ra còn có nhiều cách khác nhau để tính ra con số ấy, nhưng đa số đều gần giống như nhau.

Đối với một người Phật tử thì vô minh, một cái thấy không sáng tỏ, chính là nguyên nhân gốc của phiền não. Những lo âu về tiền bạc hay sức khỏe, nếu ta nhìn cho kỹ, thì thật ra chúng rất là vô ích. Trên cuộc đời này sẽ không bao giờ ta có đủ tiền bạc, và sức khỏe thì chắc chắn cuối cùng rồi cũng sẽ suy giảm, cho dù ta có làm gì đi chăng nữa! Thông điệp không lời của tràng chuỗi Phật giáo là, “Đừng lo âu về những sự việc, hãy lo về vấn đề tại sao ta lúc nào cũng lo âu, và giải quyết ngay tận gốc rễ của nó”. Xâu chuỗi tự chính nó cũng là một giáo pháp.

Cho dù ta có sử dụng tràng chuỗi cho bất cứ một việc tụng niệm nào đi chăng nữa, nó bao giờ cũng tàng chứa những bài pháp rất trọn vẹn. Trước hết, trong truyền thống đạo Phật, tràng chuỗi được giữ gìn và tôn kính như là một quyển kinh hay là y áo của một tu sĩ. Điều này cũng rất dễ hiểu, vì ta sử dụng những tràng hạt để niệm danh hiệu Phật hoặc các câu chú, thường được xem như là tinh yếu của các bài kinh. Và kế đến, khác với xâu chuỗi mân côi của Thiên chúa giáo, tràng chuỗi trong đạo Phật còn cốt ý để ta mang vào người khi không sử dụng. Vì vậy tràng chuỗi cũng còn được xem như là một nhắc nhở, chúng ta đang được phủ che bằng chiếc áo chân lý của một con đường giải thoát. Và rồi trong mỗi tràng chuỗi đều có một “hạt đạo sư” (guru bead). Một hạt to, có ba lỗ, ở cuối tràng chuỗi, “hạt đạo sư” này cũng tương đương với lại chiếc thánh giá trên xâu chuỗi mân côi. Nó tượng trưng cho vị đạo sư (và giáo pháp) mà chúng ta cứ tiếp tục quay trở về sau mỗi vòng chuỗi.

Trong truyền thống Phật giáo Bắc tông, ở cuối những buổi lễ, người ta thường đọc Bốn lời nguyện của một người tu. Trong đó, lời nguyện thứ hai là Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn. Đó là một sự mâu thuẫn tuyệt vời, một công việc mà ta không thể nào hoàn tất được. Nhưng tràng chuỗi đã làm sáng tỏ thêm, nó giúp ta thấy và hiểu rõ được điểm này, vì tràng chuỗi cũng là một vòng tròn bất tận. Khi ta lần một vòng chuỗi, nó đều bắt đầu và chấm dứt với hạt đạo sư. Theo đúng luật thì ta không bao giờ lần ngang qua hạt đạo sư này. Thay vì vậy, nếu ta muốn lần thêm một vòng chuỗi nữa, thì ta phải dừng lại nơi hạt đạo sư ấy, và xoay chuỗi đếm lần ngược trở lại, và cứ như vậy mà ta tiếp tục. Với sự thực tập ấy, ta cũng sẽ khám phá ra rằng phiền não thật sự là vô tận. Chúng ta đang có mặt trong một cõi giới đầy phiền não, muốn vượt qua chúng, ta chỉ có một cách duy nhất là thoát ra khỏi nó. Và khi thực hiện được điều ấy rồi, ta sẽ nhập vào được chung với một cảnh giới của các đức Phật.

Một vấn đề khá đặc biệt trong phương pháp lần chuỗi là những hạt chuỗi ấy không bao giờ đưa ta đến nơi đó. Khi vừa sắp đến cảnh giới của Phật thì chúng ta dừng lại và quay ngược trở về. Hành động ấy tuy đơn giản nhưng lại mang một ý nghĩa vô cùng sâu sắc. Mặc dù đức Phật đã chứng đạt được cảnh giới của Niết-bàn, chấm dứt hết tất cả mọi phiền não, nhưng Ngài vẫn sống một đời giác ngộ như một con người bình thường, sống an lạc và thong dong giữa mọi chúng sinh khác trong thế giới. Đức Phật là một bậc Như-lai, Tathagata, có nghĩa là “Người đã đến như thế” chứ không phải là “người đã đi như thế”.

Người Phật tử không bao giờ chối bỏ, trốn tránh hay muốn thoát ra khỏi cuộc đời này. Chúng ta được dạy làm sao để mình thật sự có mặt và sống an lạc chung với tất cả. Theo thuật ngữ của nhà Phật thì sự an lạc đó cũng được gọi là Tathagata, Như-lai. Như-lai là một bậc đã giác ngộ như vậy đó, như thế đó, chứ không phải như một sự mong cầu riêng tư nào đó. Ta không bao giờ trốn chạy đi đến một nơi nào khác hết. Những phiền não, lo âu của lúc ban đầu tự chính nó cũng là sự giác ngộ ở lúc ban cuối. Phiền não tức bồ-đề. Vì không hiểu được điều này mà ta cứ miệt mài theo đuổi một ngôi vị nào đó, một sự chứng đắc nào đó, để rồi khi gần đến nơi, ta bị bắt phải quay trở lại về với nơi mình đã đến. Và cũng như thế, chúng ta tiếp nhận Phật pháp qua từng mỗi hạt chuỗi mình lần qua tay.

Đó là những bài học mà tràng chuỗi đã dạy cho tôi. Ngày nay, sau bao nhiêu năm tháng thực tập, tiếp nhận giáo pháp qua lòng bàn tay của mình, thỉnh thoảng tôi cũng nhận thấy được giáo pháp ấy trong người khác. Có một bà cụ người Tây Tạng là mẹ của một người bạn, bà xa quê hương và đang ở gần nơi tôi sống. Đi đâu bà cũng cười thật tươi và có nhiều hạnh phúc. Bà bị một cái bướu rất lớn nơi cổ, nó sưng thật to và lộ hẳn trên chiếc cổ áo Tây Tạng truyền thống của bà. Lúc nào bà cũng lần một sâu chuỗi trên tay, và bao giờ bà cũng mỉm cười. Bà không nói được tiếng Anh, nhưng mỗi khi tôi nhìn tay bà lần đến phía cuối sâu chuỗi, bà vui vẻ xoay ngược lại, và lần tiếp trở lại theo chiều kia, tôi có cảm nhận rằng bà đang an trú trong thế giới của mình, và dường như là bà đang nói lên rất to cho tất cả nghe. Phật-đà! Đạt-ma! Tăng-già! Buddha! Dharma! Sangha! Tất cả pháp tạng đều có mặt nơi đó. Lúc nào bà cũng mang theo cạnh bên. Và những khi không mang nó theo, bà đeo nó trên tay áo của mình.

Đăng trong Phật giáo | Leave a Comment »

Lần chuỗi đúng pháp được tiêu tội

Đăng bởi Hoàng Vinh on Tháng Mười Hai 30, 2007


Theo quan niệm thông thường của Phật giáo, lần chuỗi niệm Phật sẽ giúp hành giả đoạn trừ tiêu sạch tội chướng, và đạt được giải thoát. Cho nên trong kinh Niệm Châu có nói: “Hành giả nếu muốn niệm Phật hãy để trên đảnh mà niệm thì tiêu sạch được tội vô gián địa ngục. Còn như thường đeo nơi cổ thì tiêu sạch được tội tứ trọng (sát sanh, trộm cắp, dâm dục, nói dối). Như cầm trong tay thì tiêu sạch các tội chướng.”
Như vậy, chúng ta đã biết công đức và sự lợi ích của xâu chuỗi rất lớn, có năng lực khiến cho người tu hành đặng mau phản vọng quy chơn, mau đạt đến cảnh giới thanh tịnh. Sự cầm chuỗi, đeo chuỗi còn được lợi ích như vậy, huống gì chúng ta trong khi niệm Phật hay trì chú mà biết ứng dụng tay trái kiết ấn để ngang ngực còn tay mặt cầm chuỗi ký số thì công đức vô lượng vô biên.
Vừa rồi, quý vị đã thấy lợi ích của xâu chuỗi. Kế đây, chúng tôi xin hướng dẫn quý vị thực tập hành trì. Khi vào chánh điện, hay ở trước bàn Phật, quý vị nên tưởng bài niệm chuỗi như sau:
Thăng trầm tam giới thật khả thương
Luân hồi lục đạo khổ nan đương
Lục tự Di Đà thường quán tưởng
Duy tâm tịnh độ mạc tư lương.
Kế đó, quý vị nhìn vào tượng Phật Di Đà mà xưng tán. Xưng tán ở đây có nghĩa là tán dương công đức, khen ngợi ánh hào quang và y báo, chánh báo vô biên vô lượng của Ngài. Vì vậy, bất cứ người tu pháp môn tịnh độ nào đều phải tán thán.
A-di-đà Phật đức Y vương
Thọ mạng thân vàng sống không lường
Nguyện độ chúng sanh qua khổ ải
Dắt dìu vạn loại đến Tây phương.
Chín phẩm sen vàng làm Tịnh độ
Rước người niệm Phật hóa Lạc bang
Độ chúng Ta-bà quy An dưỡng
Đồng về cực lạc cõi Tịch Quang.
Thật vậy, quý vị đã từng đọc tụng kinh Di Đà, chắc còn nhớ rõ câu “thâm tín chi pháp” và bốn mươi tám lời nguyện của Ngài, nhất là lời nguyện thứ mươi tám: “Nếu tôi thành Phật, chúng sanh mười phương hết lòng tin ưa, muốn vào nước tôi, cho đến niệm chừng mười niệm, nếu không được như thế thì tôi nguyện không thành Chánh giác, chỉ trừ những người nào tạo tội ngũ nghịch, bài báng Chánh pháp.” (kinh Vô Lượng Thọ, Đại 12268 thượng ghi). Vì thệ nguyện của đức Phật A Di Đà cao cả như thế, nên người nào xưng danh hiệu Phật có đủ tâm chí thành và phát nguyện hồi hướng thì người đó nhất định sẽ được Phật tiếp dẫn. Vì thế, chúng sanh nào nếu muốn không còn luân hồi sanh tử, thì phải nên nhất tâm niệm Phật.
Vì vậy, trong tiến trình tu học Phật, xâu chuỗi một trăm lẽ tám hạt hay mười tám hạt là những phương tiện không thể thiếu đối với người tu đạo giải thoát. Vì sao vậy? Bởi vì thân tâm phàm phu của chúng ta hiện nay duyên trần bận buộc, nghiệp chướng sâu dày, trong cuộc đời thường bị các trần cảnh làm nhiễm ô, vọng tưởng điên đảo chi phối, nên sự niệm Phật khó đạt được sự nhất tâm bất loạn, do đó cần phải nhờ đến xâu chuỗi làm phương tiện để nhắc chúng ta tấn tu đạo nghiệp.
Sau đây, chúng tôi xin trình bày về nguyên nhân có xâu chuỗi 108 và ý nghĩa của nó.
Nguyên nhân có xâu chuỗi 108 hạt:
Thuở xưa, khi Đức Phật còn tại thế, có một vị quốc vương tên là Ba Lưu Ly, lãnh thổ nhà vua cai trị là một tiểu quốc thuộc nước Ấn Độ. Nhưng không may, gặp năm mất mùa, lúa gạo đắt đỏ, giặc cướp nổi lên, bệnh tật lan tràn cả nước, trước cơn thiên tai loạn lạc như thế, nhà vua vô cùng lo âu, không biết tìm cách nào để cứu vãng tình thế. Bỗng nhà vua nhớ đến đức Phật và thầm nghĩ: “Đức Phật là đấng Từ bi, Ngài có thể hiện thân cứu hộ tất cả chúng sanh, vậy chắc chắn Ngài có thể cứu khổ được nhân dân ta lúc này”. Vua liền cho sứ giả đến chỗ Phật ngự và trình bày tất cả những việc đã xảy ra trong nước đồng thời nhờ đức Phật tìm phương cứu độ.
Đức Phật dạy: “Nếu muốn thoát khỏi cơn hoạn nạn này cũng như để diệt trừ ba chướng thì phải tìm cho được 108 hột cây trai rồi xâu lại thành chuỗi để niệm cho hết một ngày một đêm như vậy, cứ niệm danh hiệu Tam bảo: Nam Mô Phật, Nam Mô Pháp, Nam Mô Tăng và một lần niệm thời lần qua một hạt, dần dần cho đến 108 hạt, nếu như niệm được 108 lần thì trừ được 108 kiết sử phiền não, khi được định tâm rồi sẽ chứng được bốn Thánh quả (Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm, A-la-hán) và cuối cùng sẽ thành Phật.” Sau khi nghe đức Phật dạy xong, sứ giả trở về thuật lại cho nhà vua nghe những gì đức Phật đã chỉ dạy. Nhà vua vô cùng mừng rỡ nên lập tức ra lệnh cho dân chúng trong nước tìm cho được hạt cây trai và xâu lại thành chuỗi để niệm Phật.
Thế rồi chính nhà vua, mặc dù quốc sự đa đoan nhưng Ngài vẫn rất siêng năng trì niệm trong những giờ rảnh việc. Bỗng một hôm đức Phật hiện ra trước mặt và nói: “Nhờ nhà vua siêng năng niệm chuỗi cho nên trong nước được thoát nạn, dân chúng được an cư lạc nghiệp.”
Về sau, nhà vua phát tâm xuất gia học đạo, tu hành phạm hạnh cuối cùng được làm một vị Bích Chi Phật ở thế giới Phổ Hương. Qua sự việc trên, chúng ta thấy được nguyên nhân xuất hiện xâu chuỗi 108 hạt và hiệu quả của sự lần chuỗi thật là to lớn.
Ý nghĩa của xâu chuỗi 108 hạt:
Trong khi nhãn căn tiếp xúc với lục trần dễ khởi đắm say, từ chỗ đắm say nên sáu tên giặc phiền não (tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến) có cơ hội phát sanh; nhĩ căn và các căn sau (tỷ, thiệt, thân, ý) cũng thế. Mỗi căn tiếp xúc với trần cảnh đều tạo ra sáu tên giặc nên sáu căn tạo ra cả thảy 6 x 6 = 36 tên giặc phiền não. Nếu cộng chung ba thời kỳ quá khứ, hiện tại, vị lai thì có ra một trăm lẽ tám giặc phiền não. Như vậy, một trăm lẽ tám hạt châu Bồ-đề ở đây nếu được ta dùng vào việc niệm Phật thì có công năng tiêu mòn hết các tội chướng, hay nói khác hơn là chuyển hoá một trăm lẽ tám giặc phiền não kiết sử, nhờ đó hành giả được an vui, giải thoát hoàn toàn. Khi cầm xâu chuỗi 108 hột chúng ta nên đọc câu kệ:
Thủ trì nhất bá bát
Diệt tội đẳng hà sa
Viễn ly tam đồ khổ
Xích sắc biến liên hoa.
Dịch nghĩa:
Tay cầm trăm tám Bồ-đề
Tiêu mòn các tội đặng về Tây phương
Khỏi nơi chốn khổ ba đường
Lửa hồng liền biến liên hương nhiệm mầu.
Nam mô Định Tâm Vương Bồ-tát
Tóm lại, mỗi chúng ta đều nên có một xâu chuỗi 108 hoặc 18 hạt để nhắc nhở chúng ta luôn luôn nhớ niệm Phật. Nhờ nương vào xâu chuỗi mà niệm Phật dần dần ta đạt được nhất tâm tức là niệm niệm liên tục không có niệm khác. Đó chính là vào chánh định và từ đó trí huệ sẽ phát sanh. Nhưng có một điều cần chú ý là muốn niệm Phật mau được định thì chúng ta cần phải nghiêm trì giới luật, chớ một mặt thì niệm Phật, một mặt thì buông lung phóng túng, phá trai phạm giới thì không biết đến bao giờ mới có kết quả. Việc này cũng giống như trong một gia đình, người vợ thì lo buôn tảo bán tần để tích lũy của cải gia đình, còn người chồng thì chỉ lo cờ bạc hút sách gây nợ nần chồng chất thì gia đình đó chỉ có tan nát mà thôi.

Đăng trong Phật giáo | Leave a Comment »