hoangvinh

hoangvinh’s Blog

Archive for Tháng Một 6th, 2008

10 điều Tâm Niệm Của Phật

Đăng bởi Hoàng Vinh on Tháng Một 6, 2008

10 điều Tâm Niệm Của Phật

1) Nghĩ đến thân thể , đừng cầu không bệnh tật
Vì không bệnh tật thì tham dục dễ sinh

2) Ở đời đừng cầu không khó khăn ,
Vì không khó khăn thì kiêu sa nổi dậy

3) Cứu xét tâm tính thì đừng cầu không khúc mắc,
Vì không khúc mắc thì sở học không thấu đáo

4) Sự nghiệp đừng mong không bị chông gai ,
Vì không chông gai thì chí nguyện không kiên cường

5) Làm việc đừng mong dễ thành ,
Vì dễ thành lòng thường kiêu ngạo

6) Giao tiếp đừng mong lợi mình ,
Vì lợi mình thì mất đạo nghĩa

7) Với người đừng mong thuận chiều ý mình ,
Vì thuận chiều ý mình tất sinh tự kiêu

8) Thi ân đừng cầu đền đáp ,
Vì cầu đáp trả thì thi ân có mưu tính

9) Thấy lợi đừng nhúng tay ,
Vì nhúng tay thì hắc ám tâm trí

10) Oan ức không cần bày tỏ ,
Vì bày tỏ là hèn nhát , mà trả thù thì oán đối tới già

Đăng trong Phật giáo | Leave a Comment »

VĂN HÓA TÌNH DỤC CỦA TRUNG QUỐC

Đăng bởi Hoàng Vinh on Tháng Một 6, 2008

VĂN HÓA TÌNH DỤC CỦA TRUNG QUỐC

Thuật nối dõi của đế vương

Ở triều đại nhà Hán, vào đầu thời kỳ phong kiến của Trung Quốc, các quy phạm xã hội đều tương đối lỏng lẻo, và trong lĩnh vực tình dục còn sót lại một số phong tục thời nguyên thủy, như ở một vài vùng còn lưu giữ những phong tục “tân khách tương ngộ, dĩ phụ đãi túc” (có khách tới gặp, đem vợ bồi khách ngủ lại đêm) hoặc “cộng thê, cộng phụ” (chung vợ, chung chồng). Chồng chết tái giá tại triều đại nhà Hán chuyện này cũng thường tình.

Bên cạnh đó, cũng đáng nêu ra đây rằng vào đời nhà Hán, Trung Quốc có phát triển ra một khoa học tình dục rất hoàn toàn đầy đủ, gọi là “Phòng trung thuật” hay “nghệ thuật trong phòng ngủ”.

Như tên gọi Phòng trung thuật có nghĩa là kỹ thuật trong phòng the. Theo nghĩa hẹp nó có ý nói đến những kỹ xảo về tình dục; theo nghĩa rộng nó là quan niệm về tình dục của Trung Quốc cổ đại.

Những công trình sớm nhất có liên quan tới Phòng trung thuật là những cuốn sách nói về vấn đề này viết từ đời Tây Hán trên lụa và trên thanh tre (trúc giản thư), như những sách có liên quan tới thuật trong phòng: “Thập vấn” (Hỏi mười điều), “Hợp âm dương”, “Thiên hạ chí đạo đàm”… (Hội hợp âm và dương), (Bàn về nghệ thuật lớn nhất trong thiên hạ), v.v… Những sách này sau khi khai quật được vào năm 1973, đã cổ động một phong trào sôi nổi đi nghiên cứu Phòng trung thuật.

Vào quãng thời kỳ Đông Hán, kỹ thuật trong phòng của Trung Quốc đã thịnh hành một cách khác thường. Giáo sư Lý Phong Mậu ở Hệ Trung văn trường đại học chính trị phát biểu: Sự hưng thịnh của phòng trung thuật có quan hệ tới đế vương, nó là một thứ thuật kế vị của đế vương. Ông chỉ rõ, đời nhà Hán các đế vương đa số đều đoản mệnh, tạo nên gây nguy cơ cho sự nối nghiệp của các vua. Chính vì thế tăng cường quá nhiều hậu cung, từ đó những phương sĩ (ngự y) đề xuất các loại phương pháp dùng trong phòng nhằm giúp nhà vua sinh được con cái khỏe mạnh và tăng cường sức lực của họ.

Nội dung của Phòng trung thuật bao gồm những mục tuổi nào thích hợp với hôn nhân và quan hệ giữa tuổi tác với số lượng động phòng, kỹ xảo tình dục, tư thế, phản ứng tình dục của người phụ nữ, thụ thai, kiêng kî, phép chữa trị những trở ngại chức năng tình dục, thảo dược, v.v… có thể nói đây là một môn khoa học về tình dục của Trung Quốc đời xưa.

Phòng trung thuật còn có tên “Ngự nữ thuật” (thuật dùng người nữ), lý luận chủ yếu của nó là “thái âm bổ dương” (dùng âm để tăng cường cho dương), dạy người nam cố sức làm cho người nữ đạt tới điểm cực khoái khi giao hợp, sao cho hấp thụ được âm khí của người nữ phóng ra vào điểm cực khoái, do đó đạt được công hiệu dưỡng sinh và trường thọ. Nhà Hán học Hà Lan Van Gulik mô tả cái thuật thái bổ không đồng đều này, gọi đó là “tính trá thủ” (sự lừa lấy trong tình dục)

Lý Phong Mậu vạch rõ cho ta thấy Phòng trung thuật nguyên là một phương pháp dưỡng sinh “nam nữ song tụ” (mà cả nam cũng như nữ cần phải thi hành), do đó cũng như có “thái âm để bổ dương” thì cũng có những trường hợp “thái dương để bổ âm” nhưng không thể phủ nhận quyền truyền bá thời cổ đại nằm trong tay nam giới, tất nhiên cái ý “thái âm bổ dương” đã trở thành lấn lướt.

Phòng trung thuật nhấn mạnh rằng việc giao hợp với người phụ nữ càng nhiều càng tốt, nhưng điều quan trọng là không nên phóng tinh. Truyền thuyết “vua Hoàng Đế nằm với 1000 người nữ mà trở thành tiên” ông Bành Tổ cũng nhân vì thái bổ dưỡng sinh mà sống tới 800 tuổi.

Nhằm mục đích làm cho nữ giới đạt tới điểm cực khoái lúc giao hợp, do đó sách phòng trung phân tích thật cặn kẽ phản ứng tình dục của nữ giới . Tác giả Tăng Dương Tinh, người từng nghiên cứu Phòng trung thuật nhiều năm, bảo thí dụ thuật này phân chia một lần động phòng ra mười giai đoạn, lợi dụng vị giác, khứu giác, xúc giác để quan sát phản ứng của người nữ với độ chính xác cao.

Sau đời Tống, nền lý học hưng thịnh lên, Phòng trung thuật bị áp chế. Có một bộ phận truyền tới Nhật, người Nhật gọi nó là “Y tâm phương” (Phương pháp điều trị tim).

Triều đại nhà Đường tự do và phóng túng

Có câu nói “Tảng Đường lạn Hán” (đời Đường bẩn thỉu, đời Hán hủ bại). Lưu Đạt Lâm tin rằng câu nói đó phản ánh mức độ tự do tình dục của hai thời đó được thịnh hành biết mấy.

Triều Đường(618-907 sau Công nguyên) là triều mà quan niệm tình dục trong lịch sử Trung Quốc tự do bậc nhất và hợp với tính người nhất. Lưu Đạt Lâm chỉ rõ triều Đường thịnh hành việc phụ nữ mặc những quần áo phô một phần ngực và việc ly hôn cải giá cũng tương đối tự do. Chẳng hạn 23 công chúa đời Đường ly hôn rồi tái giá, một vài người cải giá tới ba lần. Cả con gái nhà nho Hàn Dũ cũng ly hôn và tái giá.

Trong lịch sử Trung Quốc triều đại nhà Đường cũng là triều đại mà địa vị người phụ nữ tương đối cao. Người phụ nữ không chỉ không bị đặt dưới cái giới luật “đại môn bất xuất, nhị môn bất mại” (Cửa lớn không ra, cửa thứ hai không vượt) mà còn có thể cưỡi ngựa ra ngoài dạo chơi !

Nghiên cứu nguyên nhân mở rộng quan niệm tình dục của triều đại nhà Đường cuốn “Văn hóa tình dục Trung Quốc thời xưa” của Lưu Đạt Lâm nhận dạng một vài nhân tố chủ yếu. Thoạt đầu đó là thời kỳ cực thịnh của xã hội phong kiến, và là thời phồn vinh lớn mạnh; kẻ thống trị nó có lòng tin và lực lượng dư dật và do đó hoàn toàn phóng khoáng và không thành kiến. Thứ hai, kẻ nào “no ấm nghĩ tới dâm dục”, có một thời kỳ dài triều Đường hưởng cảnh thiên hạ thái bình thịnh trị, mọi người có thừa sức đi tìm khoái lạc và hưởng thụ. Ngoài ra, triều Đường là một thời đại dung hợp dân tộc với Hán tộc Hồ Bắc. Những giao tiếp với các nước “man di” chắc chắn đã ít nhiều dẫn tới một vài thay đổi trong lễ giáo, quan niệm tình dục và những môn thuộc loại đó.

Đứng về góc độ văn học mà nhận xét, đời Đường có những bài thơ diễm tình mô tả tình yêu trai gái, tình phòng khuê; những “tiểu thuyết truyền kỳ” ca tụng tình yêu, bộc lộ những điều vớ vẩn về tình dục, như: “Truyện Hoắc tiểu Ngọc”, “Truyện uyên ương”, “Truyện Lý Oa”, v.v. đều phản ánh đầy đủ bộ mặt của xã hội đương thời.

Những ràng buộc về thân thể và tinh thần

Triều Tống là thời kỳ chế độ phong kiến từ thịnh chuyển thành suy, cũng là thời kỳ chuyển từ sự phóng túng sang sự áp chế tình dục. Từ đó trở đi Trung Quốc bắt đầu tám, chín trăm năm kềm chế tình dục.

Triều Tống suy nhược và vô tích sự, nhiều phen bị ngoại tộc xâm chiếm quấy nhiễu, ngoài ra còn chịu nỗi sỉ nhục lớn là hai vua Huy, Khâm bị nước Kim bắt làm tù binh; để tăng cường lực lượng thống trị, tại các mặt quân, chính, tư pháp, những kẻ thống trị tập trung quyền thực thi cao độ.

Trong thời kỳ này môn lý học của Trình – Chu hưng thịnh (lý học, còn được gọi là môn học về nguyên lý). Cái mớ học thuyết bảo thủ đó phù hợp với bọn thống trị của thời kỳ suy bại, bọn chúng muốn khống chế thái độ và tâm tư của người dân một cách nghiêm ngặt, và như vậy mớ học thuyết này bị bọn thống trị nắm lấy và vận dụng, và có một ảnh hưởng tới xã hội từ ngày đó trở đi.

Lý học chủ trương “tồn thiên lý, diệt nhân dục” (duy trì mặt trật tự của thiên nhiên và tiêu diệt những ham muốn của con người). Môn đồ của học thuyết này tin rằng “một khi con người làm điều bất thiện là do bị sự ham muốn dụ dỗ” (“nhân vi bất thiện, dục dụ chi dã”). Do đó, chỉ có cấm tuyệt đối con người nghĩ tới lòng dục thì mới có thể đẩy mạnh được trật tự của thiên nhiên.

Quan niệm về sự trinh tiết của phụ nữ bắt đầu bị cường điệu hóa. Thời trước đó chồng chết cải giá là chuyện rất bình thường. Từ triều Tống trở về sau, cải giá bị coi như “thất tiết”, không được xã hội đương thời dung thứ. Những truyện như “Quả phụ đoạn tý” (gái góa chặt cánh tay sau khi tình cờ bị một người đàn ông chạm phải), “Nhũ thương bất y” (Ngực bị thương bỏ mặc không chữa, vì phụ nữ để phô ngực ra cho thầy thuốc nhìn còn tệ hơn là chết) được dùng làm gương mẫu và tuyên dương rộng rãi. Câu nói “Nga tử sự tiểu, thất tiết sự đại” (Chết đói là chuyện nhỏ, thất tiết mới là chuyện lớn) được coi là danh ngôn chí lý.

Ngoài những ràng buộc về mặt tinh thần, phụ nữ đời Tống còn bị một ràng buộc lên thân thể, đó là tục bó chân.

Tục bó chân của người phụ nữ Trung Quốc xét cho cùng bắt đầu từ đời Ngũ đại, cuối đời Đường hay đời Bắc Tống? Mọi người còn phân vân. Điều có thể xác minh được là, đến đời Tống thì “tam thốn kim liên dĩ thành mỹ nữ” (ba tấc sen vàng đã thành người đẹp) đã thành cần thiết để trở thành tiêu chuẩn cho cái đẹp của người phụ nữ. Bàn chân xinh của phụ nữ đã trở thành một bộ phận thân thiết nhất, có sức hấp dẫn nhất trong cơ thể họ. Trong cuốn “Sinh hoạt tình dục tại Trung Quốc đời xưa” của ông, Robert Van Gulik kể lại trong những bức tranh xuân cung (cung mùa xuân = dâm ô) từ đời Tống trở đi, phụ nữ được phô bày hoàn toàn khỏa thân, nhưng ông đã không hề thấy một bức tranh nào trong đó chân họ lại không bó vải. Do đó ta có thể thấy những đôi chân bó là một cái gì thần bí và cấm kî, chúng khiến cho người ta tưởng tượng xa vời.

Có người bảo: bó chân sẽ làm cho thịt ở âm bộ người nữ béo và đầy, bắp thịt ở lưng thêm tính đàn hồi hơn. Cái ý đó đã bị chứng minh là chuyện vô căn cứ. Chẳng qua bó chân chỉ chìa ra ngón cái để làm cho cân bằng, đung đưa hông không kém phần khêu gợi như những chiếc giày cao gót ngày nay.
Một đôi chân nhỏ, một vò nước mắt

Tục ngữ có câu “Một đôi chân nhỏ, một vò nước mắt”. Cái cách để mô tả sự đau đớn gây ra do bó chân quả không ngoa chút nào. Bó chân là phải trừ ngón cái ra còn bốn ngón kia vặn vào phía trong bàn chân rồi buộc nó bằng vải. Qua một quá trình kèm theo chảy máu, nung mủ, viêm sưng phồng lên, toàn bộ bàn chân cuối cùng thu nhỏ lại ở một chiều dài khoảng 10cm, được gọi thông thường là “tam thốn kim liên” (ba tấc sen vàng).

Thời xưa con gái bắt đầu chịu đau đớn để bó chân từ năm lên hai hoặc ba tuổi. Sự đau đớn dần dà tăng theo ngày tháng, và quá trình bó kéo dài ba năm thì xong.

Vì việc bó chân hạn chế năng lực hoạt động và phạm vi hoạt động của nữ giới, họ không đi được xa nhà, thậm chí không có cách nào làm việc nhà, nên về sau chỉ có những nhà trung lưu và thượng lưu mới có khả năng cung dưỡng những cô khuê nữ mà lại không làm việc sản xuất. Như vậy nếu một gia đình có khả năng nuôi một cô gái bó chân trở thành một trong những tiêu chuẩn qua đó có thể so sánh được gia thế, sự bó chân không còn chỉ là nguyên nhân khêu gợi tình dục nữa.

Có người nhận xét là sự bó chân phản lại tự nhiên không chỉ hạn chế hoạt động của người nữ mà còn bó chặt tâm trí của họ nữa. Nhưng Van Gulik cũng nêu bật rằng việc bó chân chấm dứt nghệ thuật vũ đạo của Trung Quốc vĩ đại và cổ kính.

Sau khi bọn Mãn Thanh vào quan ải, bắt đầu hạ lệnh cấm bó chân, nhưng không có hiệu lực lắm. Mãi tới khoảng đầu những năm ba mươi của thế kỷ 20, nghĩa là hai mươi năm sau khi Trung Quốc trở thành một dân quốc thì cái tục lệ dã man làm đau đớn phụ nữ Trung Quốc hàng ngàn năm sau cùng mới bị thủ tiêu.

Một dòng xuân chảy về hướng nào?

Từ đời Tống trở đi, 800 năm đã qua, tuy qua thời đại Nguyên Thanh không phải do người Hán thống trị, những quy phạm đạo đức về tình dục do triều Tống đặt ra, tựa hồ ít có dao động. Trên thực tế, triều Tống đối với sự định nghĩa lại của văn hóa tình dục Trung Quốc, kỳ thực chẳng qua chỉ là từ trên mặt đất chuyển xuống dưới mặt đất mà thôi.

Triều Minh vào giai đoạn hậu kỳ phong kiến là thời kỳ có nhiều trinh tiết liệt nữ nhất trong lịch sử. Năm 1368, năm đầu của vua Hồng Vũ nhà Minh hạ chiếu lệnh cho thiên hạ: những phụ nữ thường dân góa chồng trước tuổi ba mươi thủ chế và ngoài tuổi năm mươi vẫn không cải giá sẽ được tôn “tộc biểu môn lư” (biểu dương trong làng trong xóm) và gia đình họ sẽ được miễn các sai dịch. Trong cái không khí xã hội biểu dương sự tiết liệt to tát như vậy, những trinh tiết liệt nữ ngày càng tăng. Căn cứ vào ghi chú của pho “cổ kim đồ thư tập thành” (một công trình tham khảo bách khoa biên soạn vào đời Thanh) thì số 200 liệt nữ tiết phụ từ triều Tống đến triều Minh tăng vọt lên tới ba vạn sáu nghìn người.

Lưu Đạt Lâm đem ví tình dục như “một dòng sông xuân”: “Nếu dòng nó chảy bị tắc ở đây thì nó sẽ chảy sang một hướng khác! Do đó thời đại nào mà nhiều trinh tiết liệt nữ nhất thì thời đại đó tiểu thuyết tình dục, tranh xuân cung sẽ lan tràn nhất”.

“Nhục bồ đoàn” (Đêm tụng kinh bằng thịt) là một bộ sách khiêu dâm tiêu biểu của đời Thanh. Hồi thứ nhất trong sách đã nêu rõ ý nghĩa chủ yếu bằng câu: “Thế gian chân lạc địa, toán lai toán khứ, hoàn sổ phòng trung” (Nơi cực lạc trên đời này, suy đi xét lại cho cùng phải kể tới trong phòng ngủ). Toàn bộ thế giới là “nhất bức đại xuân cung” (Một bức tranh xuân cung to lớn).

“Dĩ dâm chỉ dâm” (lấy cái dâm để chặn cái dâm) là cái mà nhiều cuốn sách khiêu dâm dùng làm mộc chắn mũi tên phê phán. “Nhục bồ đoàn” cũng không tránh khỏi ngoại lệ và mở đầu cuốn sách bằng câu “để chặn ngọn gió dâm, mượn chuyện dâm mà nói, bàn chuyện xác thịt, mở đầu bằng những ham muốn xác thịt” (chỉ dâm phong tá dâm sự thuyết pháp, đàm sắc sự tựu sắc dục khai đoan). Ngoài ra “Kim Bình Mai” cũng là pho tình dục nổi tiếng ở triều Minh. Trần Khánh Hạo nhận xét rằng Kim Bình Mai phản ánh một điểm rất thú vị: nếu một người nam có ý định chinh phục một người nữ thì hắn ta phải thông qua tình dục để làm cho đối phương có được khoái lạc. Trần Khánh Hạo bảo rằng nhân vật nam chính trong truyện, Tây Môn Khánh, tuy là một tên đại dâm đãng nhưng mối quan tâm lớn nhất của hắn là làm thế nào để nhân vật nữ chính Phàn Kim Liên được khoái lạc. Điểm này trong các tác phẩm văn tình dục của phương Tây ít thấy có.

Nữ nhi xuân (tranh xuân con gái)

“Tranh xuân cung” thoạt đầu là những tranh vẽ tại các cung thất đế vương triều Hán, về sau bị coi là công cụ để dạy về tình dục: vào lúc gả chồng cho con gái, bố mẹ cô không quên bỏ vào đáy hòm cô vài tờ tranh xuân cung, nhằm để tham khảo cho đêm tân hôn, trong tranh mô tả nam nữ sinh hoạt tình dục cùng mọi tư thế giao hợp, tranh được cuộn tròn hoặc kết thành từng tập. Do đó mà tranh xuân cung còn có tên gọi là “tranh đáy hòm”.

Trần Khánh Hạo nhận xét rằng, căn cứ vào những miêu tả trong những tác phẩm văn học của hai triều Minh, Thanh, tranh xuân cung được bán rất “quang minh chính đại”. Ở ngoài các cửa miếu của thành Tô Châu chúng được bán giữa ban ngày ban mặt cùng với các tranh Tết nguyên đán.

Nhà dân tộc học Ân Đăng Quốc trong cuốn “Cửa sổ sau của phong tục dân gian” cũng nói tới: Làng Dương Liễu Thanh gần Thiên Tân nổi tiếng về sản xuất với những bức tranh dâm ô mà những bức tranh này đều ra đời dưới ngọn bút của những phụ nữ và những cô con gái con nhà khuê các. Do đó mà chúng có tên gọi đẹp đẽ là “nữ nhi xuân” (tranh xuân của con gái).

Những lời mà cổ nhân dùng để hợp lý hóa tranh xuân cung rất là thú vị. Tương truyền rằng những bức tranh dâm dục ô uế có pháp lực hàng phục tà ma và xua đuổi hung thần sát quỷ, lại có khả năng kî tà, kî lửa. Khi thần lửa vốn e thẹn trông thấy một nơi có sinh hoạt tình dục thì ông ta lập tức xấu hổ mà tránh đi, cho nên nơi nào treo tranh dâm ô thì thần lửa tự nhiên”kính nhi viễn chi” (kính trọng mà lánh xa). Từ đó trở đi các thư sinh có thể công khai mạnh dạn treo trong phòng học của họ những bức “bí hí đồ” (tranh trò chơi bí mật), còn được gọi là “tî hỏa đồ” (tranh kî lửa).

Miếu thờ trinh tiết

Để biểu dương trinh nữ, tiết phụ, triều Thanh lại còn tiến thêm một bước là cho dựng những miếu thờ, đồng thời tại các địa phương lập những “toàn tiết đường”, “sùng tiết đường”, “thanh tiết đường” v.v… tiếp nhận, thu nạp những trinh nữ, tiết phụ.

Vào đời Thanh việc kiểm duyệt các sách cấm cũng đặc biệt nghiệt ngã. Giáo sư Vương Thu Quế ở Hệ sử trường đại học quốc gia Thanh Hoa nhận xét rằng cứ mỗi khi một vị vua nhà Thanh lên ngôi, đều cho công bố một danh mục những sách cấm, phàm những sách nói về tình yêu, về sự quan hệ giữa trai gái thảy đều bị cấm. Do đó, dưới triều Thanh xuất hiện cái hiện tượng thú vị là nhiều loại sách như vậy đã được xuất bản đi xuất bản lại nhiều lần, mỗi lần dưới một cái tên khác trước.

Những bài học lịch sử

Từ khi có cuộc sống là đã có tình dục. Cha ông chúng ta từng thời kỳ sùng bái tình dục và sinh sản mà hoàn toàn không hay biết, qua những thời kỳ của lịch sử như tạp giao, quần hôn…, phát triển tới tận nay đến chế độ một vợ một chồng. Qua quá trình đó, quan niệm tình dục của nhân loại chao đảo, đu đưa giữa những áp lực thuộc tính sinh vật và tính xã hội.

Lấy xưa xét nay, có thể thấy rõ được là, xã hội mà khống chế đối với cá nhân càng chặt chẽ bao nhiêu thì những cấm kî tình dục càng nhiều bấy nhiêu và những cấm đoán tình dục càng nghiệt ngã bấy nhiêu. Nhưng thời kỳ mà sự áp chế tình dục gay gắt, thì sự phản ứng lại cũng gay gắt.

Quan niệm tình dục không ngừng diễn biến, nhân loại không ngừng đi tìm kiếm một điểm cân bằng. Điều quan trọng là cái điểm cân bằng đó do quan hệ cung cầu tự nhiên mà tìm ra, không thể một người hay một số người có thể quy định được.

Những nhân sĩ bảo vệ nền đạo đức hiểu rằng đời này không giống đời khác, nhưng mà nhìn chung văn hóa tình dục của Trung Quốc đời xưa, họ thình lình phát hiện ra là cái “thái bình thịnh thế” trong sự tưởng tượng của mọi người kỳ thực không hề tồn tại. Nhưng không ít học giả nhận ra rằng, đem cái nhãn quan lịch sử ra mà xét thì xã hội luôn luôn tiến lên phía trước, nó càng ngày càng mang tính người. Chúng ta cần phải có lòng tin vào xã hội

Bạc Bích

Đăng trong Software | Leave a Comment »

Dâm ca, dâm kinh

Đăng bởi Hoàng Vinh on Tháng Một 6, 2008


NHÂN ĐỌC ”THIÊN ĐƯỜNG TÌM LẠI” CUẢ HỒ TRƯỜNG AN, NÓI VỀ DÂM THI , DÂM CA, DÂM KINH…TRONG LỊCH SỬ, VĂN HOÁ, VÀ TÔN GIÁO CỦA LOÀI NGƯỜI

- Đặng Văn Nhâm -

KHỞI: GIỚI THIỆU HAY CHƯỚNG NGẠI?
Trước tiên tôi được biết đến“Thiên đường tìm lại”, một tập dâm thi của nhà văn Hồ Trường An, là nhờ bài giới thiệu khéo léo và phê bình rất dễ thương cuả nhà văn nữ Vũ Thi An, đăng trên tạp chí Hải Ngoại Nhân Văn (số 23, tháng 6. 02, trg.63, nhan đề “vấn đề dục tính trong thơ văn VN”). Vài ngày sau tôi mới nhận được tập thơ này do chính tác giả gửi tặng. Vốn là một kẻ đam mê những gì trong phạm trù văn hoá có dính líu đến chữ “dâm” hay có vị “dâm”, tạm gọi là “dâm hương trong chữ nghĩa” , nên tôi vội vàng tò mò mở ra đọc. Nhưng mới vài trang đầu, gọi là “khởi”, tôi liền bị khựng lại ngay, bởi bài “thi văn dục ái qua thiên đường tìm lại ” của tiến sĩ Lưu Nguyễn Đạt, viện trưởng VIỆN TƯ TƯỞNG VIỆT trong vùng thủ đô Hoa Thịnh Đốn, nước Hoa Kỳ !
Đọc bài cuả ông Đạt, tự nhiên tôi bị cụt hứng và khó chịu vô cùng. Cảm giác cụt hứng và khó chịu cuả tôi ví chẳng khác nào cảm giác của một gã si tình, đã mót lắm rồi, lại sắp sửa được giao hoan khoái chí với người đẹp đã loã lồ sẵn sàng chờ đợi trên giường, bất ngờ lại bị một bậc đại nhân,cực kỳ nghiêm nghị, chưng diện bảnh bao, hào nháng, với luận điệu rất “moralisateur”, cố níu lại để giảng giải lang bang những chuyện kinh kệ, thần thánh lăng nhăng trên trời dưới đất!
Về nội dung, bài “KHỞI” của ông Đạt, viết rất cầu kỳ, cộng thêm một số trích dẫn điển cố các huyền thoại La-Hy và tên mấy bộ kinh tôn giáo.Tuy nhiên, xem ra vẫn chẳng đủ khả năng minh giải, hay phát lộ tính chất quan yếu, cao quí, và thiêng liêng cuả chữ “ dâm” trong văn học, tôn giáo và lịch sử nhân loại. Trong suốt 9 trang chữ, đã được trịnh trọng đặt ngay đầu thi phẩm, ông Đạt vẫn không đạt nổi mục tiêu thông thường, tối thiểu, của người viết tựa là kích động khiếu thẩm dâm cho người đọc trước khi họ bắt đầu nếm cái vị dâm tràn trề lai láng trong 112 trang giấy khổ nhỏ cuả nhà văn Hồ Trường An. Có lẽ chính vì thế mà cô Vũ Thi An, một phụ nữ trí thức tuổi xấp xỉ trung niên (đã có chồng , con, tất chẳng lạ gì với những chuyện hành dâm, hay những câu dâm thơ v.v…) đã phải thành thực kể lại trong bài phê bình dẫn thượng:”Tôi mở tập thơ ra xem, phải đỏ mặt ngay”. Theo tôi, sự “đỏ mặt” của cô Vũ Thi An là một phản xạ tự nhiên trước một trạng thái đột ngột, sững sờ, vì tinh thần chưa được chuẩn bị. Cái sự “ đỏ mặt” đó đồng bào miền Nam gọi là : mắc cở, con người Bắc gọi là: xấu hổ.Chỉ có thế thôi!
Đó là một bằng chứng thất bại rõ rệt. Sự thất bại ấy, thực ra không nằm trong nội dung thi phẩm hay thuật dụng ngữ của Hồ Trường An, mà lại do chính bài “khởi”của ông Lưu Nguyễn Đạt. Người đọc có cảm nghĩ dường như ông Đạt viết bài “khởi” này chẳng phải viết cho thi phẩm “thiên đường tìm lại”, nhắm gột rửa sạch sẽ thành kiến sai lầm, lạc hậu cuả quần chúng VN về các loại dâm thi, dâm truyện, dâm ca, dâm kinh v.v… Cũng chẳng phải ông viết thay cho tác giả Hồ Trường An, để nói lên tính cách thiết thân, thiêng liêng, thần thánh cuả cái dâm, với công năng sinh sản cao quí, vốn là giềng mối lưu truyền dòng giống nhân loại của cái dâm, kể từ thuở Hồng Hoang (Big Bang) , khi con người còn phải đi trong thế lom khom bằng cả 2 chân lẫn 2 tay như loài dã nhân (thuyết Darwinisme).
Nên biết, việc hành dâm còn được chính Élôhim hay Yahweh [tiếng Hê Brơ (hébreu) là một ngôn ngữ cổ của dân Do Thái, chỉ Thượng Đế cuả đạo Du Già (Judaisme), nguồn gốc cuả Thiên Chuá Giáo] dặn dò, khuyến khích thủy tổ loài người bằng một câu then chốt [trích trong truyền thuyết “Document sacerdotal”, do Jean Bottéro dịch] như sau:”Soyez féconds et multipliez vous, remplissez la terre et soumettez-la!”…( tạm dịch: Hãy sinh sản và tăng trưởng, hãy trám đầy mặt đất và khuất phục nó!). Trong chương Sáng Thế (Genèse:1,28) kinh TCG cũng ghi lời dặn ông Adam và bà Eve của Yahweh-Elôhim nguyên văn:”Remplissez la terre et dominez la!”(hãy trám đầy trái đất và thống trị nó!)…
Ngoài ra, còn một truyền thuyết khác, cuả phái Yahwiste, vẫn có trong thánh kinh viết bằng tiếng Hê Brơ, Yahweh-Elôhim đã kể chuyện con rắn dụ khị bà Eve ăn trái cấm (chớ không xác định trái táo như ông Đạt viết). Chuyện “ăn trái cấm” trong thánh kinh thực ra còn nhiều ẩn số, mặc dù hàng mấy ngàn năm nay, các nhà thần học và lãnh tụ tôn giáo đã tốn nhiều công sức và giấy mực vẫn chưa giải đáp được.Trong khi đó, ông Đạt , chẳng biết gì về thánh kinh đã khẳng định nông cạn, bừa bãi bằng câu ngớ ngẩn:”Trái táo biểu tượng cho thánh lệnh cấm đoán phạm giới, đồng thời tạo kiến thức phân tách nam nữ tính, và từ đó dẫn tới đam mê dục ái và vòng sinh tử, song song với ý niệm nghiệp chướng luân hồi cuả Phật giáo. Tất cả chỉ là kiến thức và ngộ giác ngay trong nhân thế!”
Nơi đây, xin mở ngoặc ngay để nói nhỏ với ông “ tiến sĩ” Đạt rằng cái “ý niệm về nghiệp chướng luân hồi” giữa TCG và PG khác nhau xa lắm và tuế toái lắm, chúng ta chớ vội quơ quào vào!
Tóm lại, với cái lối “khởi” như thế, người đọc, dù hời hợt đến đâu chăng nữa, vẫn thừa nhạy cảm nhận ra ngay dụng tâm cuả ông Đạt, chỉ cốt viết cho riêng ông. Dĩ nhiên thôi!
Song le, chính vì vậy mà chẳng những ông Đạt đã không giới thiệu nổi đặc tính “dâm”, chất “ dâm”, nghệ thuật diễn tả rất hiện thực về những hành động và khoái cảm “dâm” chứa chan lênh láng trong tác phẩm cuả Hồ Trường An. Nên biết: Bản chất cái dâm vốn thông tục và thực dụng hằng ngày như ăn, uống, ngủ, ỉa v.v…Cái dâm lại trần truồng, lõa lồ, hiện rõ từng lỗ chân lông. Từng làn da thịt mỏng dính, màu tươi hon hỏn, dễ thương, gợi thèm khát đến nhểu giãi, xếp nếp kín đáo ở những nơi sâu kín nhất trong cơ thể con người…từ thuở Hồng Hoang, con người còn ăn lông ở lỗ đã tuyệt đối chối bỏ, vứt tung hết mọi thứ vỏ che đậy gỉa tạo. Trong cái dâm, kể cả dâm thi, dâm truyện, dâm ca, dâm kinh…không có một chỗ đứng nào cho trí thức huê dạng, hay đạo đức. Cái dâm đòi hỏi cái thực và cái “ người” thật người! Nếu biết được như thế, tất ta sẽ thấy ngay lối viết cầu kỳ , trí thức của ông Đạt đã chẳng hợp tí nào với nội dung cuả tập dâm thi này.Xin dẫn chứng:
”…Tôn giáo trên toàn thế giới thường đề cập đến dục ái như một hiện tượng minh giải. Trong thánh kinh Thiên Chúa Giáo và Cựu Ước, nhân loại đồng tình, thể hiện qua nam giới A-Đông. Nữ tính Ê-Va xuất chiết từ cơ thể A-Đông, nên nhân bản nguyên thủy bất tách. Trái táo biểu tượng cho thánh lệnh cấm đoán phạm giới, đồng thời tạo kiến thức phân tách nam nữ tính, và từ đó dẫn tới đam mê dục ái và vòng sinh tử, song song với ý niệm nghiệp chướng luân hồi cuả Phật Giáo. Tất cả chỉ là kiến thức và ngộ giác ngay trong nhân thế.
Kinh điển Tantra Ấn Độ, Mật Tông Tây Tạng, và Kama Sutra, đều phổ quát liên quan mật thiết giữa tình dục và thánh tính ngay trong giới hạn và chiều sâu cuả nhân thế…”( trg.14,15 ). “ …Chữ nghĩa dục ái trở thành âm điệu, thành hoà âm tiếp nối dòng nhạc Mozart luân biến Don Juan thành tuyệt tác.Thi ngữ dục ái lại mắc mưu những đường cong ấm áp, nở nang, sâu hoắm trên thân thể Apollon biến thạch, trên làn da huyền bích của nữ thần Diane đang ngâm mình bên dòng sông vĩnh cửu…” (trg.16).
Chẳng những vậy, ông Đạt còn làm một việc có tính cách phô trương không cần thiết. Ông viết một bài ngắn, chỉ vỏn vẹn 9 trang giấy nhỏ, chữ lớn bằngViệt văn, cho người VN đọc, nhưng lại trịnh trọng chú thích cẩn thận đến 21 chữ Việt rất quen thuộc và thông dụng sang tiếng Anh. Nhưng chẳng may ông lại định nghĩa và chú thích sang Anh Ngữ không chính xác lắm về chữ “dâm”.
Khi muốn biện hộ cho tập dâm thi cuả Hồ Trường An, cho rằng không có sắc thái thú tính, hạ cấp, mà chính là một dục cảm thanh cao, ông Đạt đã viết lằng nhằng, nghĩa lý tù mù vẫn bằng cách dùng chữ cầu kỳ ra vẻ thông thái:” Trước hết chúng ta hãy tránh vài ngộ nhận về dục cảm và thú tính. Sắc thái nặng nề của thú tính hời hợt, thô cục, ngoại vi, ứ đọng tại khía cạnh phô bày nhục dục vụn vặt, với những khoái lạc tạm bợ, vụng về, không phải là địa hạt hoặc cứu cánh cuả thi văn dục ái, mà chỉ là môi trường hạ cấp cuả dâm thư ”. (trg.10)
Câu này, ông Đạt viết bằng tiếng Việt mà người đọc còn cảm thấy thô nhám, gồ ghề cường điệu, nuốt không trôi như: thô cục, ngoại vi… Thế mà tai hại thay, ông lại còn chú thích thêm Anh ngữ như: thô cục (graphic), ngoại vi (epidermic), khiến cho cổ họng người đọc càng bị nghẹn nhiều hơn.
Nhưng tai hại nhất cho nghệ thuật cuả thi phẩm “thiên đường tìm lại” là ông Đạt đã không chuyển đạt được sự khác biệt tinh tế giữa 2 từ “porno” với “érotique, erotic” sang Việt ngữ. Ông đã dùng ngay chữ “dâm thư ”để chú thích bằng tiếng Anh là: Pornography!( số 6,trg.10).
Theo sự hiểu biết rất tầm thường cuả tôi, chữ “dâm thư ”, còn gọi là “dâm thi”, không kém gì “dâm ca”, hay “dâm kinh”… cần phải được trang trọng và nghiêm nghị dịch bằng từ: Érotique (Pháp ngữ), hay Erotic (Anh ngữ). Chữ này vốn gốc Hy Lạp (erôs), (chú ý: chữ Erôs có dấu mũ đàng hoàng), rất thông dụng trong văn chương La-Hy. Các nhà làm văn hoá Hy Lạp thường dùng từ “erôs” để biễu diễn một trong số những đặc tính cảm quan tinh tế nhất cuả dân tộc Hy Lạp. Chữ này, trong Cựu Ước Kinh TCG, ta thấy đã được hoán vị bằng từ “amour” (tiếng Anh: love), và được lập đi lập lại đến cả thảy 600 lần. Nhưng trong Tân Ước Kinh, người ta thấy chữ đó đã bị kiểm duyệt, loại hẳn ra ngoài, để thay thế bằng một chữ Hy Lạp khác là:“agapè” (danh từ),”agapan” (động từ), và “agapètos” (tĩnh từ), và đã được nhắc đi nhắc lại tới 320 lần trong bộ kinh này.
Còn chữ “pornography” mà ông Đạt đã dùng nên dịch là:“tục dâm” hay “nhục dâm”(trong đó bao gồm cả: thị dâm, thính dâm, khứu dâm, vị dâm, khẩu dâm, thủ dâm, cước dâm v.v…), tức phân định rõ rệt những động tác hành dâm thuần túy (như sự giao cấu đủ các kiểu cọ), với những sản phẩm dâm thuộc về tư tưởng hay tinh thần (như dâm thi, dâm ca, dâm kinh, dâm truyện…). Nên biết dâm thi, dâm ca, dâm truyện, hay dâm kinh vốn là những sản phẩm tinh thần của con người có suy tư, với một bộ thần kinh cảm xúc cực kỳ bén nhậy và một thiên khiếu thẩm dâm hiếm qúi. Một bài dâm thi tuyệt tác, nếu phổ nhạc, và được đồng ca ở nơi thờ phượng, tức là dâm ca. Thí dụ như những bài dâm ca trong thánh kinh viết bằng tiếng Hê Brơ của người Do Thái cổ :” Cantique des cantiques”, những bài tụng ca “ Hymne homérique V, à Aphrodite” ,V, 53-74, thế kỷ thứ VII trước TC, những bài dâm tình ca cuả dân Ai Cập cổ, viết theo lối chữ tượng hình ( hiéroglyphe) đã được Siegfried Schott giải tự. Thông dụng nhất, và nhẹ nhàng nhất là bài tình ca “Hymne à l’amour” của thánh Paul (1 Corinthiens, chapitre 13) đã gợi hứng cho Edith Piaf phổ nhạc. Đáng kể hơn nữa là bài thánh ca tán tụng yêu đương “Quand on n’a que l’amour” (khi ta chỉ có tình yêu) thường được cất lên trước những cuộc lễ cưới ở nhà thờ TCG…
Còn nếu những bài dâm thi được truyền tụng lâu đời, thì được gọi là dâm kinh (như Kâma-Sutrâ. Chú ý: chữ “â” có dấu mũ đàng hoàng nghe! Tôi sẽ nói đến bộ dâm kinh này trong một phần sau).

EROTIC LÀ MỘT “TA-BU”?
Đối với chữõ “Erotic” mà tôi vừa nêu trên, có lần ông Đạt đã dùng để chú thích ngay khi mở đầu bài, cuối trang 9. Câu này ông viết nguyên văn:” Trong một nền văn hoá còn nhiều gò bó bảo thủ, nhục dục thường được coi như một thứ “ta-bu”, một việc cấm kỵ, kiêng tránh như phải kềm hãm, be bờ một mãnh lực hoang tạp, hỗn độn…”. Nếu chỉ có thế cũng chẳng đáng nói làm gì, nhưng tai hại vô cùng, ông Đạt lại còn cố giải thích thêm cái “ta-bu” (tabou, taboo) của ông là do:”Căn cứ vào từ “eros” (gốc Hy Lạp) và những thành ngữ như: Erotica, Erotic poetry, poésie érotique” (nguyên văn).
Thực hết sức hỗn độn, và sai lầm, khi ông Đạt khẳng định việc cấm kỵ nhục dục, là một thứ “ta-bu” trong nền văn hoá VN, lại bắt nguồn từ chữ “Erôs”!
Qui kết như thế, chứng tỏ ông Đạt đã không đếm xỉa gì đến từ nguyên học (étymologie). Ông Đạt đã cột buộc cái “ta-bu” (cuả riêng ông Đạt, chứ chưa hẳn của cả một nền văn hoá!) vào chữ “erôs” đầy huyền thoại cao quí, đẹp đẽ cuả người Hy Lạp và nền văn hoá La-Hy tối cổ cuả nhân loại.
Xin dẫn chứng:
Trong khuôn khổ giới hạn của bài này, dĩ nhiên tôi không thể nào kể đầy đủ chi tiết nguồn gốc điển tích, huyền thoại kỳ bí về thần Erôs, vốn tiêu biểu cho tình yêu, và dâm tính đầy nhựa sống, chứa chan tình cảm lãng mạn của dân tộc Hy Lạp. Trong lãnh vực tư tưởng, nghệ thuật Hy Lạp, khi những vì tinh tú và ánh sáng trên bầu trời giao hợp nhau, hay lu mờ đi, đều có thần Erôs. Khi nhựa cây đã tràn ngập trong thân cây vào buổi đầu xuân ấm áp, cũng là do thần Erôs. Khi hai sinh vật gặp nhau, ôm ghì, siết chặt lấy nhau, kéo dài trong giây lát, một thời gian, hay cả một cuộc đời, cũng là hiện thân của thần Erôs! Nhưng ngược lại, nếu cuộc sống trở nên ảm đạm, u buồn, lại không có Erôs!
Dĩ nhiên, con người không thể nào có phép thăng thiên, để bay thẳng lên trời như thần Icare, nhưng con người vẫn chẳng thể nào sống ở thế gian hoàn toàn vắng bóng thần Erôs cho được. Hình ảnh của thần Erôs đã được các nhà nghệ thuật tạo hình Hy Lạp mô tả như một thanh niên cường tráng, trên lưng mang đôi cánh, luôn bay bổng giữa không trung, trong trạng thái vô trọng lực, nằm trên nền màu xanh đen của những chiếc lọ lục bình, đủ cỡ lớn nhỏ. Sở dĩ người Hy Lạp luôn luôn tạo hình thần Erôs đang bay lơ lửng giữa không trung, vì muốn nói lên thần lực của Erôs, cho rằng Erôs có thể làm giảm nhẹ mọi sức ép đè nặng trên kiếp người, đồng thời làm dịu bớt những cảm xúc chất chứa nặng chĩu trong tim của những kẻ yêu nhau. Điều này chứng tỏ từ thời thượng cổ, các nhà thông thái, các văn nhân, thi sĩ, các nhà nghệ thuật Hy Lạp đã biết đế½n định luật về sức hút, hay còn gọi là hấp lực của trái đất, do khoa học gia Newton khám phá ra. Hơn thế, Erôs còn được coi như vị thần có khả năng huyền bí thúc đẩy vạn vật từ thể tĩnh sang thể động, và làm cho lòng người xúc động…
Tóm lại, Erôs chẳng những là một vị thần trong huyền thoại cổ Hy Lạp, mà còn là một đấng sáng tạo sinh động đóng vai trò trung gian giữa trời và người. Cho đến bây giờ người ta vẫn còn tìm thấy những bài thánh ca tuyệt tác của những nhà thơ thần thoại Hy Lạp (des hymnes orphiques) đã thánh hoá và ca tụng Erôs bằng những câu truyền tử lưu tôn trong dân gian Hy Lạp như sau:” détenteur des clés de l’univers” (người nắm giữ chìa khoá cuả vũ trụ) , và câu:”tient entre ses mains le gouvernail du monde” (đôi tay cầm bánh lái con thuyền thế giới)…
Vậy xin hỏi: Ông Đạt căn cứ vào đâu mà đã gán cho thần Erôs cái đại tội tình dục tục tĩu, đến nỗi đã bị dân tộc VN, và văn hoá VN coi như một thứ “ta-bu” cấm kỵ?!

APOLLON VÀ DIANE LÀ AI?

Tiếp theo, ta hãy nói đến điển cố. Khi một nhà văn, hay nhà nghiên cứu muốn đem một điển cố trong kho tàng văn chương đông tây kim cổ vào bài viết cuả mình, tức thị muốn cho bài văn cuả mình có chiều sâu sắc, nói ít mà chứa đựng nhiều tình tiết. (lắm khi phải tốn nhiều trang giấy). Nhưng nó đòi hỏi nhà văn, hay người xử dụng điển cố trong văn chương phải am tường cặn kẽ điển cố, và trích dẫn phải thật xứng hợp với tình huống hiện hữu trong bài văn. Thí dụ như muốn tả vẻ đẹp cuả người con gái mình mới làm quen ngoài phố mà kể rằng nàng đẹp như Chung Vô Diệm thì thực chẳng còn có gì buồn cười và lố bịch cho bằng!
Vậy mà khi nói đến dục ái trong thi phẩm “thiên đường tìm lại”, ông Đạt đã dẫn ra hai nhân vật thần thoại cổ Hy Lạp là Apollon và Diane. Hai vị thần này thực sự chẳng liên quan gì tới vấn đề dục ái hết thảy!
Nên biết: Trong kho tàng huyền thoại và văn chương Hy Lạp cũng như trong tinh thần, tập quán của người Hy Lạp từ xưa đến nay, hai vị thần Apollon (nam) và Diane (nữ) không phải là biểu tượng đặc trưng cho dâm tính hay khoái lạc nhục dục. Apollon là một trong 12 vị thần Olympe, ra đời tại Délos, mẹ là Léto, đã bị thượng đẳng thần Zeus dụ dỗ, thuyết phục, và sinh ra đời 2 người con là thần Apollon với một người em gái song sinh là nữ thần Artémis…
Trong con mắt của người Hy Lạp, Apollon là một vị thần khả ái, gợi hứng sáng tác cho các nhà nhạc sĩ, thi sĩ, là một vị thần bảo trợ cho mọi ngành nghệ thuật, tượng trưng cho mặt trời và ánh sáng văn minh, phản ánh thiên khiếu nghệ thuật cuả nước Hy Lạp, và là thần tượng của tuổi trẻ , của sắc đẹp và của tiến bộ.
Như vậy, rõ rệt Apollon không ăn nhập gì đến dâm thi, nhưng vẫn bị ông Đạt lôi bừa vào bài của ông. Hơn thế nữa, khi trích dẫn nữ thần Diane, ông Đạt đã không ngờ rằng trong văn chương và huyền thoại Hy Lạp, vị nữ thần lừng danh kim cổ, tượng trưng độc nhất vô nhị cho ái dục chính là nữ thần Aphrodite. Còn nữ thần Diane, nguyên gốc nằm trong thần thoại cuả người La Mã cổ (Ý Đại Lợi). Về sau, nàng Diane đã được Hy Lạp đồng hoá với nữ thần Artémis, em song sinh cuả Apollon.
Trong kho tàng huyền thoại La-Hy, ta càng ngạc nhiên hơn là không bao giờ có thể tìm ra được đoạn văn nào nói đến nữ thần Diane “ngâm mình bên giòng sông vĩnh cửu” (trích nguyên văn của ông Đạt) mà chỉ biết được ở Némi có một ngôi đền thờ nữ thần Diane, nằm bên một cái hồ và một bìa rừng thiêng!…
Đến đây, thiết tưởng tôi cần nói thêm đôi điều về nữ thần Aphrodite, để chứng minh lối trích dẫn điển cố cuả ông Đạt. Aphrodite vừa là nữ thần bảo hộ cho các cuộc hôn nhân , tình yêu vợ chồng, và sự sinh sản…Nhưng đồng thời nàng cũng là một nữ thần thường được dùng làm biểu tượng cho dục vọng cuồng nhiệt mà không sức gì cản nổi. Đôi khi nàng còn phá hoại cả những cuộc phối ngẫu hợp pháp, đưa đẩy vợ chồng đến tình trạng ngoại tình, và tạo ra nguyên nhân những cái chết bởi dục vọng và tội ác. Trong kho tàng huyền thoại cuả La Mã, nếu muốn tìm một vị nữ thần tương đối giống như Aphrodite, tôi thiết nghĩ không ai khác hơn là nữ thần Vénus.
Về hình tượng, nữ thần Aphrodite, thường được người Hy Lạp mô tả khoả thân hay đôi khi bán khoả thân, khoác trên thân thể bốc lửa dục tình ngùn ngụt một tấm the mỏng dính, trong những thế đứng , ngồi cực kỳ khêu gợi dâm dục…Về nguồn gốc cuả Aphrodite, ta thấy có hai giả thuyết khác nhau khá dài dòng và phức tạp, nên không tiện kể thêm vào đây làm gì cho mất thì giờ. Riêng tôi, nếu có ai cắc cớ hỏi:”Trong số tất cả các nữ thần Hy Lạp, anh thích ai nhất?”. Chẳng cần suy nghĩ , tôi xin thưa ngay:”Thích nhất Aphrodite. Vì nàng là hiện thân cuả đủ mọi đức tính cao quí hiếm có , lẫn những thói hư tật xấu rất “người” của nhân loại!”.
Điều này bạn có đồng ý với tôi hay không tùy bạn!

Đăng trong Sexualité | Leave a Comment »