hoangvinh

hoangvinh’s Blog

Archive for Tháng Một, 2009

Nhân câu chuyện chức danh giáo sư đại họv

Đăng bởi Hoàng Vinh on Tháng Một 30, 2009

Nhân câu chuyện chức danh giáo sư đại học:

Bàn về vấn đề dịch thuật và đánh giá năng suất khoa học

Nguyễn Văn Tuấn

Câu chuyện bắt đầu từ bài báo do kí giả Hoàng Lê viết trên tờ báo điện tử VietNamNet ca ngợi thành tích vượt bực của Phan Thị Hà Dương: “Ở tuổi 26, ngay khi vừa bảo vệ xuất sắc luận án tiến sỹ, chị đứng đầu trong kỳ thi tuyển vào vị trí Phó Giáo sư của ĐH Paris 7. Đến nay, chị vẫn là người phụ nữ Việt trẻ nhất đạt thành tích này.” Thật ra cũng chẳng ai dám chắc chắn đây là phụ nữ Việt trẻ nhất có chức danh giáo sư, nhưng bài báo đã được nhiều báo giấy khác in lại với những cái tít ấn tượng. Chẳng hạn như Tiền Phong chạy cái tít “Người phụ nữ Việt trẻ nhất đoạt học hàm Phó giáo sư” (Tiền Phong, 21/11/2005) và nhiều lời ca ngợi nồng thắm …

Mới 26 tuổi mà được phong làm phó giáo sư tại một đại học có tầm cỡ, vượt qua hàng trăm ứng viên khác, thì quả là quá tài giỏi. Nhưng bản chất của người trí thức là hoài nghi. Có quả thật thông tin mà bài báo cung cấp là đúng với thực tế, hay lại là một ca ngợi vẽ chim thành phượng như bao nhiêu bài báo khác? Tiến sĩ Nguyễn Đình Đăng, hiện đang công tác ở Nhật, tò mò kiểm tra thì thấy bài báo của Hoàng Lê có nhiều thông tin không đúng với sự thật, như chức danh thật của Hà Dương là Maitre de Conferences, tương đương với chức danh Assistant Professor (theo hệ thống khoa bảng bên Mĩ) như trên trang nhà của bộ môn mà Hà Dương đang công tác ghi rõ ràng. Nguyễn Đình Đăng viết: “Là một người Việt Nam, tôi rất mừng vì dòng giống con rồng cháu tiên của chúng ta có nhiều người học cao và tài giỏi như TS Phan Thị Hà Dương, Ngô Bảo Châu, v.v. Nhưng chụp cho “maître de conférences” cái mũ “phó giáo sư” là một sự tùy tiện có lẽ chỉ nước Nam ta mới có. Việc đánh tráo khái niệm này có thể làm độc giả hiểu sai thực chất của một nhà khoa học trẻ, bảo vệ tiến sỹ tháng 1 năm 1999, và sau đó 8 tháng nhận biên chế maître de conférences (giảng viên). Cần lưu ý rằng khi nhận vị trí này cô chưa có một công trình nào được công bố trên tạp chí chuyên ngành vì bài báo đầu tiên của cô đăng tại tạp chí chuyên ngành là vào năm 2001 [..]. Sau khi bảo vệ tiến sỹ, cô đã đăng 8 công trình nghiên cứu trên tạp chí quốc tế trong vòng 4 năm (từ năm 2001 đến 2004). Đó là một thành tích đáng khen. Tuy nhiên, không biết ở Việt Nam ta thế nào, chứ ở châu Âu, Mỹ, Nhật Bản ngày nay không thể có chuyện một người mới 26 tuổi và chỉ với số lượng (chưa nói đến chất lượng) 8 bài báo được đăng (hoặc đang chờ được đăng) lại có thể trở thành phó giáo sư tại một đại học danh tiếng.”

Với giọng văn tương đối gay gắt, bài viết của Nguyễn Đình Đăng đã gây ra một cuộc tranh luận khá căng thẳng trên internet chung quanh những vấn đề được nêu lên. Một số người bày tỏ ý kiến ngầm ủng hộ nội dung bài báo của Hoàng Lê và quay sang tố cáo Nguyễn Đình Đăng đã từ chuyện bé xé thành chuyện to; một số thì xoay quanh những khó khăn trong việc chuyển ngữ các chức danh khoa bảng từ tiếng Pháp sang tiếng Anh và về lại tiếng Việt; một số khác thì chỉ ra đây cũng chỉ là một trong số hàng loạt những bài đánh đồng cá nhân quá trớn.

Những tranh luận này xảy ra ngay sau khi Nhà nước vừa ra quyết định công nhận chức danh giáo sư và phó giáo sư cho 339 nhà khoa học (VietNamNet 10/11/2004); và cũng như các lần trước, việc xét phong chức danh lần này cũng gây ra vài tranh luận, nghi ngờ. Có ý kiến cho rằng một số vị được tiến phong chức danh này chưa xứng đáng với khả năng thật trong hoạt động khoa học, và cũng có người đặt vấn đề tiêu chuẩn được được công nhận chức danh giáo sư. Bàn về vấn đề tiêu chuẩn, Giáo sư Đỗ Trần Cát, Tổng thư kí Hội đồng Chức danh Giáo sư Nhà nước cho biết Việt Nam phải hạ tiêu chuẩn thấp xuống mới có giáo sư! Thành ra, người viết bài này cảm thấy câu chuyện chung quanh bài báo của Hoàng Lê và Nguyễn Đình Đăng còn đặt ra một số vấn đề khá thời sự ở nước ta liên quan đến chức danh khoa bảng và các tiêu chuẩn đánh giá công trình nghiên cứu khoa học cũng như đề bạt nhà khoa học.

Thứ nhất là sự khác biệt của hệ thống chức danh khoa bảng giữa Mĩ, Pháp và Việt Nam. Ở Mĩ, thông thường, sau khi sinh viên tốt nghiệp tiến sĩ và sau ít nhất là 2 năm nghiên cứu hậu tiến sĩ, họ có thể xin được đề bạt vào ngạch giáo sư. Có ba bậc giáo sư xếp theo thứ tự thấp nhất đến cao nhất: Assistant Professor, Associate Professor, và Professor. Còn ở Pháp, cán bộ giảng dạy hay nghiên cứu trong các trường đại học chỉ có 2 bậc: Maître de ConférencesProfesseur de Université. Ở Việt Nam, hệ thống tuy phức tạp hơn hệ thống của Mĩ và Pháp, nhưng nói chung cũng có thể chia thành 3 bậc: giảng viên, phó giáo sư giáo sư. Nếu cần nói thêm, tôi muốn nói rằng hệ thống ở Anh và Úc có đến 4 chức vụ chính: Lecturer, Senior Lecturer, Associate Professor, và Professor.

Đến đây thì có vấn đề tương đương giữa các chức vụ trên đây. (Ở đây, tôi chỉ nói “tương đương” trên danh xưng mà thôi, chứ chưa nói đến tương đương về chức vụ và trách nhiệm). Nếu so sánh giữa Việt Nam và Mĩ thì chúng ta có thể phân cấp khá dễ dàng: Giảng viên = Assistant Professor, Phó giáo sư = Associate Professor, và Giáo sư = Professor.

Nhưng nếu so giữa hệ thống của Pháp với Việt Nam (hay Mĩ) thì sao? Vì Pháp chỉ có 2 bậc mà Việt Nam và Mĩ có đến 3 bậc, thành ra có thể lí giải rằng Maître de Conférences của Pháp có thể tương đương với Assistant Professor hay Associate Professor. Và, cũng dùng theo cách phân cấp đó, người ta vẫn có thể nói một Professeur của Pháp có thể tương đương với Associate Professor hay Professor của Mĩ!

Ở Anh và Úc, các trường đại học vẫn khẳng định rằng chức Lecturer của họ tương đương với Assistant Professor của Mĩ và Maître de Conférences của Pháp; còn Senior Lecturer của Úc thì tương đương với Associate Professor của Mĩ. Thế thì sự tương đương giữa hai chức danh Associate Professor / Professor của Anh và Associate Professor / Professor của Mĩ thì sao? Không có câu trả lời chính thức, bởi vì còn tùy thuộc vào … lí lịch khoa học.

Thứ hai là những khó khăn về dịch thuật. Ngày nay, chúng ta đều nhất trí dịch chữ Professor (hay tiếng Pháp, Professeur) là Giáo sư. Chúng ta cũng nhất trí rằng Associate Professor dịch là Phó giáo sư. Thực ra, đây cũng chỉ là một cách dịch tương đối mà thôi, chứ — như tôi đã từng phát biểu trước đây — tuy mang danh là “phó” nhưng trong thực tế những người mang chức danh Associate Professor chẳng làm phó cho giáo sư nào cả.

Nhưng khó khăn nhất vẫn là chức danh Assistant Professor (Mĩ) nên dịch sang tiếng Việt là gì ? Có người đề nghị Assistant Professor nên dịch là trợ lí giáo sư, nhưng tôi e rằng cách dịch này không mấy chính xác, bởi hai lẽ: (i) trợ lí giáo sư là một chức vụ ngoài khoa bảng tương đương với tiếng Anh Professorial Assistant; và (ii) tuy mang danh là Assistant (phụ tá), nhưng trong thực tế những người mang chức danh Assistant Professor chẳng phụ tá cho giáo sư nào cả, mà là những nhà nghiên cứu độc lập, hoàn toàn có tư cách chủ trì các công trình nghiên cứu. Như nói trên, Assistant Professor là một chức vụ khoa bảng thấp nhất trong ba bậc giáo sư, và những người mang chức danh này là những nhà khoa bảng đang trong giai đoạn củng cố địa vị chuyên môn để chuyển tiếp lên một cấp bậc cao hơn. Do đó, có lẽ Assistant Professor nên dịch là “Giáo sư dự khuyết”. Thú thật, ngay cả tôi cũng không cảm thấy hài lòng với cụm từ này (cũng như chưa hài lòng với chức danh Phó giáo sư, nhưng thiết nghĩ tất cả chuyển ngữ về chức danh chỉ là … tương đối.

Càng khó hơn nữa là chức danh Maitre de Conferences (Pháp). Nếu xét trên danh xưng thì chức danh này không có chữ Professeur và do đó không thể dịch là giáo sư được. Nhưng xét trên thứ bậc đẳng cấp thì chức vụ này chỉ thấp hơn Professeur một bậc (bởi vì đại học Pháp chỉ có 2 bậc “giáo sư”), vậy có nên dịch Maitre de ConferencesPhó giáo sư không ? Như đã đề cập trên, chức danh Maitre de Conferences tương đương với Assistant Professor, mà cũng có thể tương đương với Associate Professor, cho nên cả giảng viênPhó giáo sư đều có thể thích hợp ! Như vậy, vấn đề dịch các chức danh khoa bảng có khi cần phải xét đến chức vụ và thành tích khoa học của nhà khoa học.

Những khó khăn trên dẫn đến vấn đề thứ ba là tiêu chuẩn để đánh giá khả năng của một nhà khoa học và chất lượng công trình nghiên cứu khoa học. Các chức danh và chức vụ khoa bảng như giảng viên và giáo sư thường thường do hội đồng khoa bảng của trường đại học phê chuẩn và bổ nhiệm. Hội đồng khoa bảng dựa vào 4 tiêu chuẩn chính đề làm cơ sở cho việc phê chuẩn và bổ nhiệm : thành tích hoạt động khoa học, giảng dạy và cống hiến vào việc quản trị phân khoa đại học, khả năng thu hút tài trợ cho nghiên cứu, và hoạt động cộng đồng. Trong 4 tiêu chuẩn này, thành tích hoạt động khoa học được xem là tiêu chuẩn quan trọng nhất.

Thành tích hoạt động khoa học được đánh giá bằng các tiêu chí như số lượng và chất lượng bài báo khoa học đã công bố, số lượng bằng phát minh (patents of invention), uy danh và sự công nhận của giới chuyên môn trong ngành. Không có trường nào có qui định cụ thể ứng viên phải có bao nhiêu bài báo khoa học để được đề bạt, nhưng thông thường, những con số được “hiểu ngầm” là giáo sư dự khuyết phải có từ 5 bài báo trở lên, phó giáo sư thì ít nhất là 20, và giáo sư thì ít nhất là 50.

Nhưng số lượng công trình không nói lên được chất lượng của công trình nghiên cứu. Hội đồng khoa bảng thường dựa vào hệ số ảnh hưởng (còn gọi là impact factor) của tập san mà bài báo khoa học được đăng. Hệ số này thực chất là số lần trích dẫn (citation), tính trung bình, cho những bài báo đã đăng trên tập san trong vòng 2 năm trước. Chẳng hạn như năm 2003 và 2004 tập san đăng 200 bài báo khoa học, và năm 2005 có 400 lần trích dẫn các bài báo trong hai năm qua, thì hệ số ảnh hưởng được ước tính là 400/200 = 2. Nói chung, tập san nào có hệ số ảnh hưởng cao hơn 5 được xem là có uy tín cao.

Tuy nhiên, hệ số ảnh hưởng của tập san cũng tùy thuộc vào bộ môn khoa học (chẳng hạn như các tập san thuộc bộ môn khoa học thực nghiệm thường có hệ số ảnh hưởng cao hơn các tập san trong các ngành khoa học tự nhiên và toán học). Vả lại, hệ số ảnh hưởng chỉ phản ánh uy tín của tập san chứ không hẳn phản ánh ảnh hưởng của bài báo trên tập san. Trong lịch sử khoa học, không ít công trình có ảnh hưởng lớn (hiểu theo nghĩa được nhiều người trích dẫn và tham khảo) nhưng chỉ xuất hiện trên các tập san với hệ số ảnh hưởng thấp, hay thậm chí chưa bao giờ công bố chính thức trên một tập san ! Cho nên một cách đánh giá chất lượng khác là tính số lần các nhà khoa học khác trích dẫn bài báo (citations) mà nhà khoa học đã công bố. Số lần trích dẫn nhiều cũng có nghĩa là công trình nghiên cứu có ảnh hưởng lớn trong chuyên ngành. Ngược lại, nếu nhà khoa học dù có hàng trăm bài báo, nhưng không ai trích dẫn thì những bài báo này cũng chỉ là một đống rác chữ nghĩa vô dụng.

Bài học

Qua những tranh luận chung quanh bài báo về Phan Thị Hà Dương trên VietNamNet, chúng ta cũng có thể rút ra một vài kinh nghiệm về việc đánh giá độ tin cậy và tính chính xác của thông tin. Một bài học hiển nhiên cho những người viết báo là cần phải kiểm tra thông tin cẩn thận để tránh nhầm lẫn. Internet là một phương tiện quan trọng trong việc kiểm tra thông tin. Với hệ thống truy tìm thông tin của Google, việc rà soát chức danh và chức vụ cũng như quá trình hoạt động nghiên cứu của một nhà khoa học trong các đại học Tây phương thật là dễ dàng. Có thể nói bất cứ đại học nào ở các nước Tây phương cũng đều có một trang web, và trong trang web đó có danh sách giáo sư với những chức vụ khá rõ ràng. Muốn biết chuyên môn của một giáo sư là gì, hay bao nhiêu công trình khoa học gắn liền với tên của vị giáo sư cũng chỉ cần năm ba phút là cũng có được.

Tuy nhiên không phải thông tin nào trên internet, nhất là các trang web mang tính phi chính thức (unofficial), đều có độ chính xác cao. Rất nhiều thông tin trong các trang web như Wipipedia, tuy mang danh là từ điển bách khoa cho đại chúng, chưa nhiều sai sót nghiêm trọng. Thành ra, không bao giờ phụ thuộc vào thông tin của một trang web, cho dù trang web đó là của trường đại học ! Nếu cần thiết, nhà báo vẫn có thể liên lạc với những chuyên gia có thẩm quyền để rà soát thông tin và kiểm tra lại các thông tin trên internet.

Người Tây phương có câu “Đừng bao giờ đánh giá cuốn sách qua bìa sách” (never judge a book by its cover), cũng giông giống như chúng ta hay nói “không nên xem mặt đặt tên”. Dùng cách nói đó, thiết tưởng tôi cũng có thể nói không nên đánh giá một nhà khoa học qua trường đại học hay viện nghiên cứu mà nhà khoa học công tác hay tốt nghiệp. Trong thực tế, không ít giáo sư trong các đại học nổi tiếng ở Tây phương, kể cả giáo sư gốc Việt, cũng rất xoàng xĩnh, chứ chẳng phải là giáo sư hạng “đẳng cấp quốc tế” gì cả.

Ở Việt Nam ta, tiêu chuẩn để tiến phong giáo sư đang là một vấn đề thời sự. Có ý kiến cho rằng tiêu chuẩn còn quá thấp, nhưng cũng có ý kiến tiêu chuẩn quá cao. Trong một lần trả lời phỏng vấn đăng trên VietNamNet ngày 11/3/2004 (http://vietnamnet.vn/giaoduc/vande/2004/03/54931), Thư kí hội đồng chức danh giáo sư nhà nước (Giáo sư Đỗ Trần Cát) cho biết : « Mỗi ứng viên cho chức danh giáo sư phải có 2 điểm – tương đương với hai công trình – đăng trong các tạp chí uy tín », và mỗi ngành chỉ có hai « tạp chí uy tín » ở trong nước, hiểu theo nghĩa « nếu đăng ở đấy thì nó khó, chất lượng cao hơn. Còn việc chọn đâu là hai tạp chí uy tín của mỗi ngành thì do hội đồng ngành đề xuất, hội đồng thường trực sẽ thông qua. Còn các bài báo đăng ở tạp chí khoa học ngoài nước tất nhiên là không hạn chế rồi ». Nói cách khác, theo qui định này, để đề bạt chức vụ giáo sư, ứng viên chỉ cần có 2 bài báo khoa học ! Tôi nghĩ những tiêu chuẩn này chẳng những quá thấp, mà còn chưa đủ vì, như đã nói trên, con số bài báo không thể phản ánh chất lượng nghiên cứu.

Bất cứ thời nào, bất cứ ở đâu, bất cứ ngành nào đều có những rác rưởi được đánh bóng và xuất hiện dưới danh nghĩa “công trình nghiên cứu khoa học”. Ngày nay, trên thế giới có khoảng 108.000 tập san gọi là “khoa học”, và con số vẫn còn tăng hàng năm. Thành ra, một công trình nghiên cứu dù cho có chất lượng thấp cỡ nào đi nữa, và nếu tác giả kiên trì theo đuổi, thì nó cũng được in trong một tập san nào đó. Herbert Simon (giải Nobel kinh tế học) từng nói một câu chí lí: Sự dồi dào thông tin tạo nên tình trạng thiếu tập trung (“A wealth of information creates a poverty of attention”). Theo phân tích của Viện thông tin khoa học (Institute of Scientific Information, ISI) có khoảng 55% các bài báo khoa học trên thế giới không bao giờ được ai trích dẫn, không bao giờ được ai (kể các chính tác giả) tham khảo sau 5 năm công bố ! Ngay cả trong số được trích dẫn, cũng chỉ rất … lèo tèo. Chỉ có trên dưới 1% bài báo khoa học được trích dẫn hơn 6 lần mà thôi (trong vòng 5 năm). Điều này có nghĩa là không không thể nào đánh giá khả năng của nhà khoa học qua con số lượng bài báo, và càng không đánh giá công trình khoa học chỉ vì công trình đã được công bố, mà phải xét đến số lần trích dẫn.

Xã hội có quyền đặt kì vọng cao vào những người mang chức danh “giáo sư”, bởi vì họ là một phần của bộ mặt của khoa học Việt Nam. Người dân muốn thấy những người mang chức danh giáo sư phải có khả năng tương xứng với đồng nghiệp quốc tế. Trong chiều hướng hội nhập quốc tế có lẽ đã đến lúc chúng ta xem xét lại các tiêu chuẩn chất lượng trong việc xem xét đề bạt giáo sư ở nước ta. Đành rằng cũng cần phải xem xét đến các điều kiện mang tính địa phương trong khi đề bạt giáo sư, nhưng các hoạt động khoa học thì lại mang tính quốc tế, và không có lí do gì các thước đo khách quan mà đa số nước trên thế giới đang sử dụng không áp dụng cho nước ta.


Đăng trong Ph.D | Leave a Comment »

Đăng bởi Hoàng Vinh on Tháng Một 30, 2009

Lesson 1: The Chinese Phonetic Alphabet


The Chinese phonetic alphabet is called “Hanyu Pinyin” in Mandarin Chinese.

The Chinese syllable is usually composed of an initial and a final, and each syllable has four different tones.

The initial is a consonant that begins the syllable and the final is the rest of the syllable, for example, “bang” in which “b” is an initial and “ang” is a final.

There are 23 initials in Chinese:

1. b; 2. c; 3. ch; 4. d; 5. f; 6. g; 7. h; 8. j; 9. k; 10. l;

11. m; 12. n; 13. p; 14. q; 15. r; 16. s; 17. sh; 18. t; 19. w; 20. x;

21. y; 22. z; 23. zh

Please bear this in mind: The Chinese initials are not syllabic sounds. No word in Chinese consists of only an initial.

There are 35 finals in Chinese:

1. a; 2. ai; 3. an; 4. ang; 5. ao; 6. e; 7. ei; 8. en; 9. eng; 10. er

11. i; 12. ia; 13. ian; 14. iang; 15. iao; 16. ie; 17. in; 18. ing; 19. iong; 20. iu;

21. o; 22. ong; 23. ou; 24. u; 25. ua; 26. uai; 27. uan; 28. uang; 29. ui; 30. un;

31. uo; 32. ü; 33. üan; 34. üe; 35. ün

You may have noticed that most of the finals in the Chinese Phonetic Alphabet are combinations of more than one vowel sound instead of a single vowel sound.

A final in Chinese is a vowel, which may be a simple vowel (simple final) or a compound vowel (compound final), or a vowel plus a nasal consonant (nasal final). Some syllables may be without an initial, for example, “a” (a modal particle), but no syllable can do without a final.

Lesson 2: Basic Syllables


Some people say Chinese is a difficult language, but it is not quite so difficult as they think.

There are 408 basic syllables in Chinese. We have worked out a “List of Chinese Basic Syllables” that gives you a bird’s-eye view of all the 408 syllables.

Please note that the pronunciation of each syllable in the following list is only available to enrolled students. To find out how to enrol, please go to the Course Guideline Page.


A LIST OF CHINESE BASIC SYLLABLES


A
1. a; 2. ai; 3. an; 4. ang; 5. ao

B
6. ba; 7. bai; 8. ban; 9. bang; 10. bao; 11. bei; 12. ben; 13. beng; 14. bi; 15. bian; 16. biao; 17. bie; 18. bin; 19. bing; 20. bo; 21. bu

C
22. ca; 23. cai; 24. can; 25. cang; 26. cao; 27. ce; 28. cen; 29. ceng; 30. cha; 31. chai; 32. chan; 33. chang; 34. chao; 35. che; 36. chen; 37. cheng; 38. chi; 39. chong; 40. chou; 41. chu; 42. chua; 43. chuai; 44. chuan; 45. chuang; 46. chui; 47. chun; 48. chuo; 49. ci; 50. cong; 51. cou; 52. cu; 53. cuan; 54. cui; 55. cun; 56. cuo;

D
57. da; 58. dai; 59. dan; 60. dang; 61. dao; 62. de; 63. dei; 64. den; 65. deng; 66. di; 67. dian; 68. diao; 69. die; 70. ding; 71. diu; 72. dong; 73. dou; 74. du; 75. duan; 76. dui; 77. dun; 78. duo;

E
79. e; 80. ei; 81. en; 82. er;

F
83. fa; 84. fan; 85. fang; 86. fei; 87. fen; 88. feng; 89. fo; 90. fou; 91. fu;

G
92. ga; 93. gai; 94. gan; 95. gang; 96. gao; 97. ge; 98. gei; 99. gen; 100. geng; 101. gong; 102. gou; 103. gu; 104. gua; 105. guai; 106. guan; 107. guang; 108. gui; 109. gun; 110. guo;

H
111. ha; 112. hai; 113. han; 114. hang; 115. hao; 116. he; 117. hei; 118. hen; 119. heng; 120. hng; 121. hong; 122. hou; 123. hu; 124. hua; 125. huai; 126. huan; 127. huang; 128. hui; 129. hun; 130. huo

J
131. ji; 132. jia; 133. jian; 134. jiang; 135. jiao; 136. jie; 137. jin; 138. jing; 139. jiong; 140. jiu; 141. ju; 142. juan; 143. jue; 144. jun

K
145. ka; 146. kai; 147. kan; 148. kang; 149. kao; 150. ke; 151. kei; 152. ken; 153. keng; 154. kong; 155. kou; 156. ku; 157. kua; 158. kuai; 159. kuan; 160. kuang; 161. kui; 162. kun; 163. kuo

L
164. la; 165. lai; 166. lan; 167. lang; 168. lao; 169. le; 170. lei; 171. leng; 172. li; 173. lia; 174. lian; 175. liang; 176. liao; 177. lie; 178. lin; 179. ling; 180. liu; 181. lo; 182. long; 183. lou; 184. lu; 185. luan; 186. lve; 187. lun; 188. luo

M
189. ma; 190. mai; 191. man; 192. mang; 193. mao; 194. me; 195. mei; 196. men; 197. meng; 198. mi; 199. mian; 200. miao; 201. mie; 202. min; 203. ming; 204. miu; 205. mo; 206. mou; 207. mu

N
208. na; 209. nai; 210. nan; 211. nang; 212. nao; 213. ne; 214. nei; 215. nen; 216. neng; 217. ng; 218. ni; 219. nian; 220. niang; 221. niao; 222. nie; 223. nin; 224. ning; 225. niu; 226. nong; 227. nou; 228. nu; 229. nuan; 230. nve; 231. nuo

O
232. o; 233. ou;

P
234. pa; 235. pai; 236. pan; 237. pang; 238. pao; 239. pei; 240. pen; 241. peng; 242. pi; 243. pian; 244. piao; 245. pie; 246. pin; 247. ping; 248. po; 249. pou; 250. pu

Q
251. qi; 252. qia; 253. qian; 254. qiang; 255. qiao; 256. qie; 257. qin; 258. qing; 259. qiong; 260. qiu; 261. qu; 262. quan; 263. que; 264. qun

R
265. ran; 266. rang; 267. rao; 268. re; 269. ren; 270. reng; 271. ri; 272. rong; 273. rou; 274. ru; 275. ruan; 276. rui; 277. run; 278. ruo

S
279. sa; 280. sai; 281. san; 282. sang; 283. sao; 284. se; 285. sen; 286. seng; 287. sha; 288. shai; 289. shan; 290. shang; 291. shao; 292. she; 293. shei; 294. shen; 295. sheng 296. shi; 297. shou; 298. shu; 299. shua; 300. shuai; 301. shuan; 302. shuang; 303. shui; 304. shun; 305. shuo; 306. si; 307. song; 308. soul 309. sul 310. suan; 311. sui; 312. sun; 313. suo;

T
314. ta; 315. tai; 316. tan; 317. tang; 317. tao; 319. te; 320. tei; 321. teng; 322. ti; 323. tian; 324. tiao; 325. tie; 326. ting; 327. tong; 328. tou; 329. tu; 330. tuan; 331. tui; 332. tun; 333. tuo

W
334. wa; 335. wai; 336. wan; 337. wang; 338. wei; 339. wen 340. weng; 341. wo; 342. wu

X
343. xi; 344. xia; 345. xian; 346. xiang; 347. xiao; 348. xie; 349. xin; 350. xing; 351. xiong; 352. xiu; 353 xu; 354. xuan; 355. xue; 356. xun

Y
357. ya; 358. yan; 359. yang; 360. yao; 361. ye; 362. yi; 363. yin; 364. ying; 365. yo; 366. yong; 367. you; 368. yu; 369. yuan; 370. yue; 371 yun

Z
372. za; 373. zai; 374. zan; 375. zang; 376. zao; 377. ze; 378. zei; 379. zen; 380. zeng; 381. zha; 382. zhai; 383. zhan; 384. zhang; 385. zhao; 386. zhe; 387. zhei; 388. zhen; 389. zheng; 390. zhi; 391. zhong; 392. zhou; 393. zhu; 394. zhua; 395. zhuai; 396. zhuan; 397. zhuang; 398. zhui; 399. zhun; 400. zhuo; 401. zi; 402. zong; 403. zou; 404. zu; 405. zuan; 406. zui; 407. zun; 408. zuo


Lesson 3: Tones


When a syllable of Chinese is pronounced in different tones, it has different meanings, for example, da1 (to put up), da2 (to answer), da3 (to beat), da4 (big).

The most difficult part for a foreigner learning Chinese is, perhaps, its tones. Yet it need not be so difficult to learn them, since there are only four basic tones in Chinese.

Now listen to this:

a1 – a2 – a3 – a4

e1 – e2 – e3 – e4

you1 – you2 – you3 – you4

wang1 – wang2 – wang3 – wang4

yuan1 – yuan2 – yuan3 – yuan4

Now you probably have some idea of what the four tones in Chinese are like. However, there is something more you should know: in addition to the four basic tones, there is one special and important change of tone called the neutral tone. The neutral tone is not an independent element that stands by itself; it occurs only in connection with and related to the tone preceding it. But that does not necessarily mean that this neutral tone is less important than the other four tones, since you will never be able to speak Chinese accurately and with a natural flow if you don’t know where to use a neutral tone in your speech.

Now please listen to this – A neutral tone following a first, second, third or fourth tone sounds like this:

ma1ma (mother); bo1li (glass); ta1 ne (how about him);

ye2ye (grandfather); bie2de (else); lai2 le (coming);

jie3jie (elder sister); san3zi (voice); zou3 ba (let’s go);

Xie4xie (thanks); mu4tou (wood); lei4 ma ([you're] tired?)

Please note that, for a neutral tone, no tone-mark is needed.

Here are the main characteristics of each tone: Tone 1 is a high level pitch; Tone 2 is a rising pitch; Tone 3 is a low dipping pitch; Tone 4 is a falling pitch. When practising, please note that if there are two Tone 3 syllables in the same tone combination, the first syllable should be articulated in Tone 2 instead of Tone 3. The neutral tone is short and unstressed.

Đăng trong Tiếng Trung | Leave a Comment »

PLUM VILLAGE MONASTERY, BORDEAUX, FRANCE

Đăng bởi Hoàng Vinh on Tháng Một 20, 2009

PLUM VILLAGE MONASTERY, BORDEAUX, FRANCE

Breathing in, breathing out, breathing in, breathing out,

I am blooming as a flower, I am fresh as the dew

I am solid as a mountain, I am firm as the earth

I am free.

Breathing in, breathing out, breathing in, breathing out,

I am water reflecting what is real, what is true

And I feel there is space deep inside of me

I am free, I am free, I am free.

PEACE IN ONESELF, PEACE IN THE WORLD

Plum Village is a monastic and retreat community, where monks, nuns, laymen and laywomen (the fourfold Sangha) study and practice under the guidance of Thich Nhat Hanh, called Thay (meaning Teacher) by his disciples and students. Thay is founder and spiritual master of Plum Village, where he lives. He inspires, teaches and leads retreats at Plum Village and worldwide on Buddhism and THE ART OF MINDFUL LIVING. He is one of the most revered and beloved Buddhist Masters of our time. Although he is nearly 80 years, his compassionate brown eyes and delightful smile are ageless; his skin is smooth and an inner radiance makes his face glow with a presence that speaks of the Beyond.

Plum Village Monastery is located in the beautiful countryside near Bordeaux, France. It consists of three hamlets: Upper Hamlet (monks and male practitioners); Lower and New Hamlets (nuns and female practitioners). Lay couples are accommodated at all three hamlets. Each hamlet is self-contained, with its own office, reception areas, kitchen, dining halls, meditation halls, library, bookshop, monastic quarters and accommodation for lay practitioners. All hamlets consist of lovely old stone buildings, surrounded by gardens with big shady trees and flowering shrubs, abundant bird life, bamboo groves, lotus ponds and plum trees (hence the name Plum Village).

THE MIRACLE OF MINDFULNESS

Breathing in, I dwell in the present moment.
Breathing out, I know it is a wonderful moment.

Present moment, wonderful moment.

Various meditation techniques are taught at Plum Village. Special emphasis is placed on cultivating moment-to-moment mindfulness. The practice of mindfulness helps one cultivate inner peace through breathing deeply, slowing down, and living fully in the present moment. Bells are used to bring one back to the present moment. The bell plays an important part of life at Plum Village. There is a bell for everything, and you quickly learn not to do anything before the bell has given its instruction or permission. One of the practices at Plum Village is to stop every time you hear a bell, and breathe in and out three times. You stop whatever you are doing whenever you hear the bell of mindfulness and focus all your attention on your breathing. This brings you back to yourself. We often get lost in our activities, physical and mental. [Bell] Listen … listen … this wonderful sound brings me back to my true self …

FEET OF THE BUDDHA RETREAT 2004

“There is nothing to stop you from being in touch with life in the present moment. The question is, do you have eyes that can see the sunset, feet that can touch the earth?” [Thay]

I was blessed to attend my second 21-day retreat with Ven Thich Nhat Hanh and the monastic and lay Sangha. This retreat is held every second year, and it is a wonderful opportunity to receive transmission of teachings every day and to soak up the presence of this remarkable man. Thay is like a clear transparent river and the teachings flow through him, a pure transmission of the Dharma. The theme of the retreat was THE FEET OF THE BUDDHA:

“We shall look deeply into the feet that, while touching the earth, transform it into a Pure Land for all; the feet that have made a deep commitment never to abandon this wonderful bastion of life which is our own beautiful planet Earth; the feet that are always ready to bring us back to our true home, to bring us together as a family regardless of culture, race, belief, or geographical boundaries; the feet that continue to bring the light of Great Understanding and Great Compassion far into the future, so that healing and transformation will always be possible. Let us learn to walk together as a Sangha, so that the Buddha can be present at any time and in any place.”

PEACE IS EVERY STEP

Thay is famous for his walking meditations. He moves slowly and mindfully. During walking meditation with him, time stops and you enter into a different dimension, that of the eternal present moment. It is always present, but we are usually not present, so we miss its incredible beauty. When you become one with the moment, you step into the Kingdom of God / the Pure Land of the Buddha. You are aware of the aliveness and unique beauty of everything. The world around you becomes magical – the sunlight and shadows, leaves on the trees, birds and butterflies and bugs – everything is part of this magical world, and everything is woven together peacefully and lovingly.

The Buddha did not only practice sitting meditation – He walked mindfully from village to village for 40 years teaching the Dharma, and today, we still walk in His footsteps when we follow the Path to Enlightenment taught by Him. We are a continuation of the Buddha and it is possible to walk like a Buddha with the energy of mindfulness. Our body can become the body of the Buddha. We can become a Bodhisattva and continue the Path of the Buddha. As Thay says, the miracle is not (only) to walk on water – the miracle is to walk on this Earth – to see with the eyes of the Buddha and to walk with the feet of the Buddha so that this Earth becomes a Pure Land.

“Here is the Pure Land. We touch it with mindfulness. Walking with mindfulness, with every step we touch the Pure Land. Such steps generate peace, freedom, healing and love. We have the duty and the joy to cultivate mindfulness.” [Thay]

When you are with Thay, you are transported to the Pure Land that has manifested itself around his holy presence, and you know that Paradise on Earth is possible amongst people who live together in love and harmony. The experience of living for three weeks with the monks and nuns in his Monastery (the kindest, nicest people you have ever met), makes a deep impression of how it could and should be, in all places. Plum Village is a refuge where one feels safe, nurtured and protected. The monastics and lay Sangha follow the teaching and wholesome way of living prescribed by the Buddha, which is so nourishing to body and mind, and brings out the very best in yourself. Thay teaches that the Pure Land of the Buddha / the Kingdom of God is here. It is available to us all the time – the question is, are we available to it? With his teachings, practices, and way of living, we learn to touch the Pure Land / the Kingdom in the present moment, more and more often, so that it becomes a reality for us here and now.

“Here is the Pure Land. The wonders of life are all around us – inside of us and outside of us. But we ignore their presence and we loose the Kingdom of God / the Pure Land of the Buddha. Conditions for our happiness are available, but we don’t know how to get in touch with them … You can dwell in the Pure Land 24 hours a day! Our practice should help us to enjoy the Pure Land / the Kingdom of God in the here and the now. We must help people touch the Kingdom / the Pure Land here and now, instead of making promises for the future, after you die. The Kingdom / the Pure Land is alive, and you must be very alive to touch it in the here and now. The Kingdom / the Pure Land is inside your heart.” [Thay]

NATURE OF CONSCIOUSNESS

Thay blessed us with amazing teachings on the NATURE OF CONSCIOUSNESS (based on his book entitled “Transformation at the Base: 50 Verses on the Nature of Consciousness”). I feel so privileged to be part of evolution happening, as mankind grows from homo erectus to homo sapiens to homo conscious (conscious beings). We have to awaken the collective consciousness and help the new species of mankind to manifest. Our future depends on this. By spreading the light of wisdom and enlightened understanding, we are helping to create a new vision of non-duality and inter-connectedness within the collective consciousness of humanity. As Thay says, the age-old question is not, to be or not to be … it is to inter-be. Buddhism teaches there is no-separate-self, and one day this Truth will be a lived reality. Homage to the Buddhas and Bodisattvas, and gratitude to the Enlightened Teachers who show us the Way.

“Every step you make in the direction of peace, every smile that you produce, and every loving look that you have, inspires and helps the people around you to have faith in the future.” [Thay]

LEELA was ordained by Thay, at Plum Village Monastery in June 2004, as a member of the Order of Interbeing, and received the Dharma Name: ‘True Stream of Light’.

Đăng trong Algorithm | Leave a Comment »