Đầu thế kỷ 21: Tin học và sinh học hội tụ
Đăng bởi Hoàng Vinh on Tháng Hai 2, 2009
Đầu thế kỷ 21: Tin học và sinh học hội tụ |
Vietsciences-Hàn Thủy |
Sinh học là môn học về sự sống, muôn màu muôn vẻ. Tin học nói Thế nhưng chỉ cần lật xem những tạp chí phổ biến khoa học trong Vậy chuyện gì đang và sẽ xảy ra ? Tầm quan trọng và ảnh hưởng PHẦN 1 : ĐÔI ĐIỀU
|
![]() |
| Hình 1: Các tầng lớp của hiểu biết khoa học chính xác, tầng trên cùng là viễn cảnh |
Ở mỗi bình diện người
ta nhận diện được những thực thể (entités) và nghiên cứu để nắm
bắt được những quan hệ (relations) giữa những thực thể ấy. Trong
hình vẽ, thực thể là các hình khối và quan hệ giữa chúng là
những đường nối các hình khối. Như ta thấy ở đây, một thực thể ở
bình diện trên có thể được giải thích như là một tập hợp những
thực thể và quan hệ ở bình diện dưới. Thí dụ như thực thể nguyên
tử của hoá học (và những tính chất của nó) có thể được giải
thích bởi những hạt lượng tử đã kết cấu với nhau theo những quy
luật nhất định của cơ học lượng tử. Các quan hệ ở bình diện trên
cũng có thể được giải thích bởi những quan hệ ở bình diện dưới.
Nói như trên sợ bị hiểu nhầm là khoa học chính
xác chỉ có một cái nhìn hoàn toàn tĩnh lặng về hiện thực. Dĩ
nhiên không phải như vậy, khoa học chính xác cũng nghiên cứu sự
thay đổi trong tính chất của các thực thể và trong quan hệ của
chúng. Và chính sự thay đổi và các quy luật thay đổi này mới là
những điều đáng chú ý. Sau đây xin gọi chung những sự vật, quan
hệ, biến đổi… mà khoa học khảo sát ở mỗi bình diện là những
hiện tượng. Và phương pháp luận đi tìm những giải thích của
một hiện tượng ở bình diện cao bằng những hiện tượng ở bình diện
thấp hơn được gọi là phương pháp ‘quy giản’ (reductionisme).
Quy giản là gì : khi một hiện tượng hay quy luật
ở một bình diện cao được phát hiện (thường là trong quá khứ),
người ta có khuynh hướng cho rằng đó là một quy luật ” trời cho
“, nó là như thế, không có gì để giải thích cả. Nhưng như thế
thì tích tụ lại càng ngày trời cho càng nhiều, khó nhớ ; và vì
chúng có vẻ như độc lập với nhau, khó áp dụng linh hoạt. Vì thế
nghiên cứu khoa học là tìm ra trong các quy luật đó một số ít
quy luật ở bình diện cơ bản hơn, để có thể từ đó suy ra nhiều
quy luật thực nghiệm ở bình diện đời thường, đưa tới sự thống
nhất và nhất quán của khoa học tự nhiên qua tác động hai chiều,
phân tích từ trên xuống và tổng hợp từ dưới lên.
Thí dụ quy luật nổi tiếng mà Archimède (thế kỷ
thứ ba trước tây lịch) trong một phút xuất thần đã phát hiện :
mọi vật khi nhúng xuống chất lỏng thì bị đẩy lên bằng một sức
đẩy ngang với số chất lỏng được chứa trong thể tích mà nó chiếm
chỗ. Cho tới thời khoa học cổ điển của thế kỷ 17 không ai
tìm cách giải thích định luật ấy cả, nó là như thế, và nó bao
giờ cũng đúng. Hoặc giả nếu ta đặt lại mình vào thời cổ đại chắc
cũng có thể nghĩ như sau : chiếm chỗ của nó thì bị nó đẩy là
tự nhiên, càng chiếm nhiều chỗ thì càng bị đẩy mạnh. Nhưng
tại sao lại đẩy lên, mà không đẩy ra, hay đẩy
xuống ?
Với những hiểu biết cơ học và hoá học hiện nay,
thì một em học sinh tú tài có thể giải thích được định luật
Archimède theo phương pháp quy giản : Lực đẩy là do tác dụng
tổng hợp của các phân tử trong chất lỏng khi va chạm vào vật thể
(A) bị nhấn chìm mà thành. Làm sao tính toán được tác dụng ấy ?
nếu đi vào phân tích thì sẽ bị khó khăn, nhưng em học sinh có
thể lý luận khôn khéo như sau : thí dụ ta cũng nhận chìm một vật
thể khác (B) giống hệt vật thể ấy (A), nhưng có một vỏ bọc rất
mỏng, tác dụng không đáng kể, và chứa cùng chất lỏng của môi
trường bên ngoài. Hiển nhiên là (B) chịu một lực tổng hợp bằng
không, vì nếu không chất lỏng trong bình sẽ phải lưu chuyển theo
một chiều hướng nhất định. Vậy thì (B) chịu một sức đẩy bằng
trọng lượng của nó và ngược chiều (tức là đẩy lên). Và vì (B)
giống hệt (A) nên (A) cũng chịu sức đẩy đó. Vậy thì, thưa
thầy, em đã chứng minh được định luật Archimède. Cũng cùng
điểm khởi đầu đó, rằng vật chất ở thể khí và thể lỏng được tập
hợp bởi các phân tử luôn luôn va chạm vào nhau trong khoảng
không, người ta có thể giải thích tại sao trong cùng điều kiện
nhiệt độ và áp suất thì số phân tử của các khí khác nhau lại
bằng nhau (số Avogrado), hay là tại sao khi trộn lẫn hai chất
lỏng khác nhau thì thể tích dung dịch lại có thể nhỏ hơn hai thể
tích khi tách rời cộng lại. Ba chuyện đời thường tưởng như chẳng
ăn nhập gì với nhau.
2. Hợp trội và quy giản
Nhưng cũng có những người cho rằng có những hiện
tượng không thể được giải thích sâu hơn mà là những quy luật
riêng của bình diện trên, ‘tổng thể lớn hơn các thành phần cộng
lại’. Đó là hiện tượng ‘emergence’: có một cái gì mới mẻ xuất
hiện ở bình diện cao hơn mà ta không thể giải thích bằng những
khái niệm dùng ở bình diện thấp hơn. Ở đây xin tạm dịch hai chữ
‘phénomène émergent’ trong nghĩa này là ‘hiện tượng hợp trội’.
Trên thực tế, trước kia người ta công nhận : nước có những đặc
tính mà khinh khí và dưỡng khí đứng riêng là không có, bởi vậy
phải nghiên cứu, thực nghiệm và suy luận ngay trên đối tượng là
nước chứ không phải chỉ nghiên cứu dưỡng khí và khinh khí là có
thể suy ra những đặc tính của nước. Nhưng hiện nay, với
cơ học lượng tử, người ta tin rằng có thể làm việc này,
tuy rằng những phương trình cần giải quyết là hết sức phức tạp,
và trên thực tế người ta vẫn cần đến khái niệm nước và những đặc
tính của nó, dù chỉ để nói chuyện với nhau cho ngắn gọn. Tuy
nhiên phải nói thêm là trong công việc suy ra nói trên
không phải chỉ có tính toán, người ta có thể đi một con đường
thô thiển hơn nhưng cũng có hiệu quả trước mắt hơn, đó là sử
dụng những phương tiện rất mạnh của tin học để mô hình hoá và mô
phỏng một cách gần đúng phân tử nước.
Như vậy quan niệm về các hiện tượng hợp trội vẫn
rất cần thiết, không những thế một hiện tượng hợp trội còn đặt
ra thêm công việc cho công tác khoa học : áp dụng tiến trình quy
giản vào hiện tượng này để hiểu rõ nó sâu sắc hơn, và biết đâu,
có thể đi đến phủ định hay hoàn chỉnh một khía cạnh nào đó của
các quy luật cơ bản.
Những bàn cãi về sự đối lập giữa hợp trội và
quy giản là rất lý thú, và có liên hệ mật thiết đến những vấn đề
trong khoa học luận về sự phức tạp nói chung, và sinh học nói
riêng.
Trở lại Hình 1 ở trên, ta thấy ở
tầng cơ bản nhất là hai lý thuyết về bản thể của vũ trụ : thuyết
tương đối và thuyết lượng tử, hai thuyết này hiện nay coi như
giải thích được tất cả các hiện tượng của đời thường. Nhưng có
phải vì thế mà có thể bỏ qua hai ngành khoa học là hoá học và
vật lý học cổ điển như chúng ta vẫn học ? Dĩ nhiên là không, để
mô tả và khảo sát các thực thể của đời thường thì hai ngành học
này vẫn có những giá trị không thể bỏ qua. Người làm sinh học
phân tử có thể không cần biết đến cơ học lượng tử nhưng không
thể không nắm vững hoá học. Tương tự như vậy, người làm công
nghệ nói chung cũng có thể chỉ cần nắm vững hoá học và vật lý
học cổ điển.
Vậy đặc điểm nào cho phép một bình diện trung
gian là cần thiết ? Dĩ nhiên là những thực thể và quan hệ nằm
trong bình diện đó phải đủ bền vững trong phạm vi nghiên cứu
thích hợp. Thứ hai là những quy luật tự nhiên trong bình diện ấy
cũng phải được phát biểu bằng những khái niệm của chính nó. Bởi
thế trong quá khứ chúng đã là những ngành học gần như độc lập.
Và có trước các ngành vật lý học cơ bản mà hiện nay làm nền tảng
cho nó.
Điều ngày có ý nghĩa gì ? Trước hết là vì trong
quá khứ các ngành khoa học cổ điển đã có một hệ thống khái niệm
và ngôn ngữ riêng, nhất quán và tự đầy đủ trong phạm vi nghiên
cứu của nó. Nhưng với thời gian các hiện tượng mới được phát
hiện, và những khái niệm, quy luật, ngôn ngữ riêng của bình diện
đó đã trở nên không đủ để giải thích hết mọi hiện tượng. Vì nếu
chúng là đầy đủ thì có lẽ chẳng bao giờ người ta lại cần tìm
hiểu sâu hơn. Đó là giai đoạn sau. Nhưng như thế không
phải là loại bỏ nền tảng cũ mà là làm cho nó giàu hơn lên. Chẳng
hạn, khi cơ học lượng tử đi sâu hơn để thành lập nền tảng vững
chắc và đầy đủ hơn cho hoá học, thì không phải là loại bỏ bình
diện hoá học, mà chính lại làm cho nó giàu có hơn bằng những vật
chất và hiện tượng mới, phát biểu được bằng ngôn ngữ của hoá học
cổ điển được sửa chữa để trở nên tinh tế hơn.
Quan hệ qua lại giữa hai bình diện hoá học và sinh học phân tử
cũng tương tự.
Nhưng vấn đề lý thú đặt ra ở đây là quan hệ giữa ba bình
diện : Những dấu chấm hỏi trong các mũi tên phía trái của
Hình 1 muốn nêu lên vấn đề sau : vậy hoá học, với những
khái niệm, thực thể, quan hệ của nó… có thể làm nền tảng để
giải thích toàn bộ toàn bộ sinh học phân tử không ? ở đây
dùng chữ giải thích chứ không dùng chữ hiểu, vì muốn
hiểu cũng cần ngắn gọn, tức là không chỉ cần dùng ngôn ngữ,
khái niệm riêng của sinh học mà còn nghiên cứu và thực nghiệm
trên những thực thể sinh học. Vấn đề ở đây phức tạp hơn nhưng
tương tự như bài toán với nước, dưỡng khí và khinh khí ; trên
nguyên tắc có thể quan niệm là khi muốn phân tích sâu hơn thì
mỗi hiện tượng sinh học có thể được giải thích bằng hoá học, nếu
hoá học là một tầng lớp trung gian đầy đủ. Trừ phi là không,
nghĩa là có các hiện tượng lượng tử tác động một cách
ma quái nào đó lên các hiện tượng quan sát được ở mức độ sinh
học phân tử, mà không thông qua những hiện tượng trung gian của
hoá học như nguyên tử và phân tử.
Tại sao không như thế ? Và nếu lấy thí dụ ở các ngành khác thì
có những hiện tượng đời thường trong cõi vô sinh là không thể
giải thích được bằng cơ học cổ điển, dù cho chấp nhận chỉ gần
đúng thôi ; hơn thế nữa, người ta không thể chế tạo được nhiều
vật liệu hiện nay nếu không trực tiếp ứng dụng cơ học lượng tử,
không chỉ thông qua những quy luật của hoá học và cơ học cổ
điển. Câu hỏi càng trở nên thích thú khi ta đặt vấn đề tương tự
cho bình diện tư duy.
3. Từ vô sinh đến hữu sinh và công nghệ sinh học
Thế nào là sự sống ? Ngoại trừ thi sĩ : ” ngày sau sỏi đá
cũng cần có nhau ” chắc ai cũng có thể nói được là sỏi đá là
vô sinh, yên nhiên tự tại, chẳng cần ai cả. Nhưng sỏi đá khác
một sinh vật ở chỗ nào ? nói chung những bài học vỡ lòng về sinh
vật học bảo rằng có thể gọi một thực thể là sinh vật khi chúng
có ít nhất ba đặc tính : 1) có tiêu thụ (và sa thải) vật chất và
năng lượng ; 2) có tăng trưởng ; và 3) có sinh sản ; và tự thực
hiện những đặc tính đó trong một môi trường thích hợp ; có lẽ
trong đó tự sinh sản là đặc điểm chủ yếu nhất. Chẳng thế
mà chữ ’sinh’ được dùng để phân chia hai thế giới.
Nhưng tự sinh sản là một cái vòng luẩn quẩn : quả trứng và con
gà. Và chúng ta đã biết, để phá vỡ cái vòng luẩn quẩn đó là cả
mấy nghìn năm suy luận, quan sát và thực nghiệm.
Aristote cho rằng trong mọi vật đều hàm chứa một nguyên lý
tĩnh, principe passif, đó là vật chất (matière), khi gặp một
nguyên lý động, principe actif, tức là hình thể (forme)
trong điều kiện thích hợp thì nảy sinh sự sống. Nguyên lý động
là cái gì rất trừu tượng, một khả năng làm cho vật chất
nảy sinh. Con người phương Tây bằng lòng với cách giải thích đó
cho tới thời hiện đại từ nửa sau thế kỷ 16. Nhưng từ đó cũng còn
cãi nhau chán chê mới bỏ được cái tên đổi mới của principe
actif tức là principe vital, nguyên lý sự sống, cũng
chẳng khác gì. Vì tựu trung như thế vẫn bảo vệ quan niệm : sự
sống (của một sinh vật) là tự nhiên xuất hiện. Cho tới
những thí nghiệm của Pasteur thì nói chung mọi người mới công
nhận : sự sống là do sự sống mà ra, còn trước đó ? thì do đấng
tối cao sáng tạo muôn loài. Từ một quan niệm vô thần và siêu
hình sang tới một quan niệm cũng vẫn siêu hình, nhưng hữu thần,
tuy nhiên phù hợp hơn với quan sát và thực nghiệm khoa học trong
một khoảng thời gian ngắn.
Đến giữa thế kỷ 19 với Darwin người ta mới thực sự chấp nhận
đông đảo rằng sự sống có thể từ vô sinh mà ra, rồi tiến hoá
trong một thời gian dài hàng tỷ năm mới thành ra muôn loài như
hiện nay. Như thế đặt ra hai khẳng định : trong những điều kiện
thích hợp các chất hữu cơ dần dần trở nên phức tạp, và đến một
lúc nào đó có thể hợp trội một thực thể hữu cơ có khả
năng tự sinh sản, sinh vật ; và đến lúc nào đó thì trong quần
thể sinh vật đó lại hợp trội một quần thể sinh vật khác
phức tạp hơn. Người ta có thể tự bằng lòng với một lý thuyết
chung chung như vậy, vì giải thích một cách khoa học những bước
nhảy vọt là rất khó. Không tránh được phải đưa vào những yếu tố
ngẫu nhiên, nhưng sự ngẫu nhiên có thể được mô phỏng bằng tin
học. Ngoài ra tính toán những đặc tính của các phân tử hữu cơ
phức tạp hơn hàng nghìn lần phân tử nước là một điều không thể
giải bằng những phương trình chính xác được. Người ta lại vẫn
phải dùng phương pháp mô hình hoá và mô phỏng bằng tin học. Trên
thực tế hiện nay trong các phòng bào chế dược phẩm lớn người ta
đã dùng máy tính và phương pháp mô phỏng để tiên đoán đặc tính
của những phân tử hữu cơ mới mà họ muốn tổng hợp.
Nói chung hiện nay lý thuyết tân Darwin, trong đó sự phân hoá
dựa trên đột biến của các gene, và sau đó thì mới tới sự tồn tại
của các sinh vật mới thích hợp nhất với môi trường, gần như được
đồng thuận trong các nhà sinh vật học. Và đúng là sự đột biến đó
là ngẫu nhiên do các gene bị biến đổi bởi tác động của các hạt
lượng tử. Thế thì sự hợp trội cũng có thể được giải thích bởi
phương pháp quy giản với điều kiện sử dụng những khái niệm ở
tầng cơ bản nhất. Và bản thân những khái niệm của cơ học lượng
tử lại hàm chứa hiện tượng ngẫu nhiên như một thuộc tính cơ bản
của thế giới vật chất.
Vậy phải chăng có nghĩa là con người không có khả năng tác động
lên các sinh vật hay sáng tạo ra các sinh vật mới ?
Câu trả lời tuỳ thuộc thế nào là tác động, và thế nào là sáng
tạo. Đúng là làm lại như tạo hoá bằng một quá trình hàng tỷ năm
thì con người không có điều kiện, nhưng còn biến chế, tổ hợp lại
trên cơ sở những chất liệu đã có sẵn, thì tại sao không ? Và
thực chất là công nghệ sinh học đang làm chuyện đó. Hiện nay còn
ở mức thủ công mò mẫm vì người ta còn chưa hiểu hết tác động
tổng hợp của các gene, cũng như tác động của môi trường chung
quanh lên trên sự phát triển phôi, vì vấn đề còn rất phức tạp.
Ngăn chặn một con virus như virus SIDA còn chưa xong, huống hồ.
Nhưng có thể nói là những nghiên cứu về vi sinh vật sẽ có những
tiến bộ rất lớn, với tiềm năng nguy hiểm cũng rất lớn. Những
thực vật và sinh vật với gene được cải tạo thì đã có rồi, tiềm
năng hứa hẹn cũng như nguy hiểm tiềm tàng đã thành vấn đề thời
sự.
Còn liệu trong vài thập kỷ hay vài thế kỷ tới liệu người ta có
thể sản xuất ra được những Frankeinstein ? chưa thể nói. Vấn đề
đặt ra một cách ngông cuồng là như sau : liệu có thể tác động
lên gene để từ đó làm thành các siêu nhân hay siêu quái vật, như
ý muốn. Như thế có nghĩa là đã nắm vững được toàn bộ quá trình
phát triển từ đặc thái di truyền (génotype) tới đặc
thái hiện tượng (phénotype) trong một môi trường tăng trưởng
nhất định. Dĩ nhiên người ta sẽ bắt đầu bằng các sinh vật rất
giản dị, chỉ có một số rất ít neuron, còn với những sinh vật
phức tạp hơn thì hoạt động của bộ não còn chưa hiểu, nói chi đến
điều khiển gene để cuối cùng có được bộ não như ý muốn. Có lẽ
trong nhiều thập kỷ nữa nghiên cứu về bộ não, kết hợp với nghiên
cứu về trí năng nhân tạo còn là một ngành độc lập với sinh học
phân tử và di truyền.
(Diễn Đàn Forum số 104, 02.2001)
PHẦN 3 : SINH NÃO VÀ ĐIỆN NÃO
Chữ điện não bộ, nếu người viết không nhớ
sai, được dùng ở Trung Quốc để dịch chữ computer (Anh,
Mỹ) hay ordinateur (Pháp), mà miền Nam ngày xưa gọi là
máy điện toán, ngày nay phổ biến trong nước là máy tính
điện tử (MTĐT). Khi dùng lại chữ điện não trong tiểu
tựa người viết không có ý đồ bàn về thuật ngữ, mà chỉ vì nó
thích hợp với khung cảnh của bài. Thật vậy, khi MTĐT mới ra đời,
người ta hồ hởi nghĩ rằng nó sẽ thay thế cho bộ óc con người
(gọi là sinh não cho gọn ), nên trên báo chí tại Âu Mỹ
cũng đã thấy dùng những chữ như : cerveau electronique,
electronic brain… Tuy rằng đó chưa bao giờ là những thuật
ngữ chính thức của các nhà tiên phong về tin học, đa số trong họ
đều tin vào khả năng thay thế sinh não bằng điện não
trong tương lai. Các nghiên cứu trong chiều hướng đó chưa
bao giờ bị gián đoạn, nhưng hiện nay chúng ta đều biết tác dụng
kinh tế xã hội rất to lớn của tin học không phải ở chỗ nó đã
thay thế được tư duy của con người, mà ở chỗ nó trở thành một
công cụ hỗ trợ rất hữu hiệu. Trên thực tế sử dụng đại trà hiện
nay, MTĐT cơ bản chỉ làm được hai chuyện, một là tính toán với
vận tốc hàng tỷ phép tính một giây, và hai là lưu trữ và tìm
kiếm thông tin nhanh từ phần nghìn giây đến vài giây, trong một
khối lượng thông tin rất lớn ; và với sự bùng nổ của Internet
những thông tin đó có thể nằm bất cứ đâu trên toàn cầu. Còn
những chuyện rất đơn giản với sinh não, như nhận ra ngay một
gương mặt quen biết, thì MTĐT lại chưa làm được chuẩn xác và
nhanh bằng.
Phải chăng quan hệ giữa điện não và sinh não
cũng như giữa con chim và chiếc máy bay ? Ước mơ bay bổng của
con người, từ Icare buộc cánh chim vào tay, qua những chiếc máy
(không) bay đầu tiên có cánh vỗ giống hình chim, chỉ thành hiện
thực với các máy bay có cánh cố định, không vỗ, không có chức
năng động cơ. Chúng đã không còn gì là bắt chước con chim nữa,
chúng chỉ làm được một chuyện là vận tải đường không, nhưng làm
tốt hơn thiên nhiên rất nhiều, chở hàng trăm người xuyên đại
dương trong vài giờ.
Sự so sánh trên có phần đúng về hiện tượng,
nhưng như thế là bỏ qua một khía cạnh có tính bản chất : các
công cụ nhân tạo như xe hơi, máy bay… là các sản phẩm vật chất
được quan niệm và chế tạo cho một mục đích nhất định, còn
MTĐT là một công cụ trừu tượng vạn năng. Trừu tượng, vì điều
quan trọng trong MTĐT không phải là cái hộp đựng bộ vi xử lý và
ổ đĩa, cộng bàn phím và màn hình, mà là những chương trình nằm
trong bộ nhớ của máy ; và chương trình cũng chỉ là một chuỗi chữ
viết mà thôi. Và vạn năng, vì khi người ta thay đổi chương trình
thì khả năng của MTĐT cũng thay đổi.
- ” Tôi phản đối, nói như vậy có thể bảo đó là
đa năng chứ chưa phải là vạn năng “.
- Vâng, đúng là
có thể làm nhiều việc khác với có thể làm mọi việc.
Nhưng thực ra MTĐT vẫn là vạn năng, theo một cách hiểu ” chuyên
môn ” hơn : bất cứ điều gì có thể được mô tả hoàn toàn đầy đủ
và chính xác thì có thể viết chương trình giao cho nó thực
hiện ; dĩ nhiên với hai hạn chế : thời gian nó làm nhiệm vụ
không thể bằng không (trên thực tế với sức máy hiện nay thì đây
không còn là vấn đề), và để thực hiện những nhiệm vụ có ảnh
hưởng vật chất tức thời thì cần cho nó những bộ phận cơ khí và
điện từ vào-ra thích hợp để đóng vai trò tai mắt và chân tay.
Hiện đã có hàng tỷ bộ vi xử lý làm những công việc như vậy trong
máy bay, xe hơi, máy ảnh… và khi đó nó trở thành một bộ phận
trong những công cụ chuyên dụng như những công cụ chuyên dụng
khác, nhưng mềm dẻo, dễ dùng và rẻ hơn.
Xin mở ngoặc về dòng chữ mô tả hoàn toàn đầy
đủ và chính xác, đây chính là cốt lõi trong việc ứng dụng
tin học trong mọi vấn đề, và đây là khâu của con người, nó quyết
định phần lớn sự thành bại trong một đề án tin học hoá. Đó là
chuyện thường ngày, nó giải thích tại sao các chuyên gia tin học
là những người rất ” ma nhắc “, hoạnh hoẹ tỉ mỉ đủ mọi thứ
chuyện mỗi khi cần đến họ. Vì như có người nói ” con quỷ nằm
trong các chi tiết “, có cái gì không chạy mà lại hỏi chuyên gia
cây nhà lá vườn, thí dụ như ” tại sao máy tôi nó không chịu
in… ” là sẽ bị hỏi lại : ” anh đã làm thế nào ? … ” vì nếu
không biết đủ chi tiết thì không thể đối diện cái MTĐT, trong
mọi trường hợp từ nhỏ đến lớn.
Trở lại việc so sánh sinh não và điện não. Trong
hình 2 dưới đây, bình diện tư duy của hình 1 trong bài trước
được phân tích chi tiết hơn thành ba bình diện : trí năng, hoạt
động của bộ não, và hoạt động của neuron. Dĩ nhiên với sự phức
tạp của tư duy thì phân chia tuyến tính như thế rất là đại khái,
đây không phải là một giải thích khoa học, mà chỉ là những cái
mốc để bàn luận và so sánh mà thôi. Bên cạnh là hình vẽ tương tự
cho tin học.
![]() |
| Hình 2 : Các tầng lớp trong hoạt động tư duy,và của các hệ thống tin học |
Tương ứng với các
chương trình ứng dụng tin học chỉ xin để một chữ trí năng
mà thôi, vì tuy hoạt động tư duy của con người còn nhiều mặt
khác, tất cả những gì máy tính làm được cho đến nay chắc làchưa
đầy một chữ trí năng này. Còn những nghiên cứu để dùng
tin học mô phỏng các chuyện khác như trực giác, sáng tạo… sẽ
xin được nói sau. Ở đây có vài dòng về thuật ngữ trí tuệ nhân
tạo đã được dùng quen, theo thiển ý nên sửa lại là trí
năng nhân tạo (theo đề nghị của giáo sư Hồ Thuần ở Việt
Nam), vì trong trí tuệ có tuệ giác, một khái niệm
của duy thức học Phật giáo khác hẳn, nếu không nói là đối lập
với, tư duy thuần lý ; điều mà máy tính hoàn toàn chưa có (cũng
vì tuệ giác là cái gì chưa mô tả được hoàn toàn đầy đủ và rõ
ràng ! chỉ có thể bản thân mỗi người thể nghiệm mà thôi).
Trong bình diện tương đương với những hoạt động
khác nhau của bộ não mà hiện nay người ta đã có một số hiểu
biết, như nghe, nhìn, vận dụng ngôn ngữ… có thể sắp đặt một số
những giải thuật và cấu trúc có tính cơ bản và tổng quát của tin
học. Và bình diện cuối cùng đặt ngang hàng hai công cụ nhỏ nhất
từ đó xây dựng các bình diện trên : neuron của sinh não và các
mạch điện tử của điện não. Sau đây xin đi vào chi tiết từ dưới
lên trên, qua đó ta có thể tóm tắt một số kết quả và vấn đề
tương lai của công việc nghiên cứu hội tụ tin học – sinh học.
1. Neuron và transistor
Hai hình vẽ 3 và 4 là loại có trong nhiều sách
báo phổ biến khoa học vì chúng đem lại những thông tin đã vững
chắc từ khoảng vài chục năm nay. Hình 3 cho thấy sự cấu tạo và
hoạt động của neuron, và hình 4 biểu diễn một trong vài hàm
lôgic cơ bản nhất dùng trong MTĐT.
Mỗi neuron là một tế bào, có màng bao bọc và hạt
nhân nằm trong, nhưng thay vì chỉ có một màng bao bọc ‘nhẵn’,
màng neuron được gắn với nhiều dây tủa ra gọi là dendrites
(thượng nguồn) và một sợi axon (sợi thần kinh) mảnh dẻ
vài micron, nhưng dài có khi đến vài chục cm, axon cũng
kết thúc bằng một chùm dendrites (hạ nguồn), phần thân tế bào và
hạt nhân còn được gọi là soma. Dendrites của một số
neuron có thể được gắn với bắp thịt và các giác quan, nhưng phần
lớn hơn là để nối các neuron với nhau, điểm nối này gọi là
synapse (synaptic knob). Đa số các neuron chỉ nối với các
neuron khác mà không có liên hệ với ‘bên ngoài’, các dendrites
của axon nối với các dendrites của soma hay nối thẳng vào soma.
![]() |
![]() |
![]() |
| Hình 3 : Cấu trúc Neuron và chi tiết. Theo ” The emperor’s new mind “; Roger Penrose ; nxb Oxford University, 1990 |
Có thể coi neuron
như một cơ chế xử lý thông tin. Neuron hoạt động như sau : Tín
hiệu được truyền đi từ soma, qua axone, dendrites hạ nguồn, tới
các synapses gắn với các neuron khác, vận tốc truyền vào khoảng
vài trăm mét một giây, và soma hoạt động theo nhịp, mỗi giây có
thể truyền đi khoảng từ 1 tới 1000 xung tín hiệu, nhịp điệu này
tuỳ theo loại neuron và trạng thái hoạt động của bộ não như
thức, ngủ… Nói tín hiệu được truyền đi theo nhịp nghiã là axon
có thể truyền một trong hai trạng thái đơn giản nhất, ‘có’ và
‘không’, tuỳ theo soma có bị kích thích hay không, nếu đúng nhịp
mà không có một chất hoá học đặc biệt gọi là
neurotransmetteur truyền qua các synapse tới các neuron
khác, thì có nghĩa là không. Chất neurotransmetteur được
chế tạo tại chỗ chứ không phải là được truyền qua axon và
dendrite, cái được truyền đi là một loại tín hiệu hoá-điện rất
chậm so với vận tốc truyền điện trong dây đồng.
![]() |
Hình 4 : Mạch Logic ‘ VÀ’ ( AND). Theo ” Les nouvelles frontières de la connaissance” ; André Rousset ; nxb Ellipses, 1993. |
Vậy khi nào thì soma bị kích thích ? điều này
tuỳ thuộc các dendrites thượng nguồn cuả nó có thu thập (từ các
neuron khác qua các synapses, hay từ các giác quan) đủ các chất
hoá học truyền tới nó hay không. Và như thế là ta có hơn một
trăm tỷ bộ máy ‘xử lý thông tin’ đơn giản và có cơ chế hoạt động
giống nhau, nối chằng chịt với nhau để hợp thành sinh não.
Theo như mô tả ở trên thật không có gì hoàn
toàn tương đương trong các cấu phần cơ bản của sinh não và điện
não, nhưng về chức năng thì tương đương : tín hiệu được truyền
đi hay không truyền đi, theo nhịp điệu. Mạch vẽ trong hình 4
cũng có thể coi như một neuron rất đơn giản, chỉ có hai đầu vào
và một đầu ra, đầu ra được kích thích và truyền đi tín hiệu khi
cả hai đầu vào đều có tín hiệu. Mạch này hoạt động như sau : Khi
không có tín hiệu thì các transistors dẫn điện, và vì điện trở
của nó khi đó rất nhỏ so với điện trở dẫn tới đầu ra (3), cho
nên chỉ cần một trong hai đầu vào (1) hay (2) không có tín hiệu
là coi như điện chạy xuống, và không có điện ở đầu ra. Ngược lại
chỉ khi cả hai đầu vào có tín hiệu, nghiã là cả hai transistor
đều ngắt điện, thì khi ấy điện mới chạy tới đầu ra, thành tín
hiệu.
Thật đơn giản, quá đơn giản. Nhưng vì thế mà
hiện nay nhịp hoạt động của nó lên tới hàng tỷ lần mỗi giây. Một
bên thì rất nhiều đầu vào đầu ra (có thể tới số nghìn) và rất
chậm còn một bên thì rất ít vào ra, nhưng rất nhanh. Mặt khác
người ta đã chứng minh được rằng chỉ bằng cách ghép nối khéo léo
các mạch ‘VÀ’ như trong hình 4 với nhau là có thể thực hiện được
tất cả các chức năng phức tạp khác của việc xử lý thông tin,
trên thực tế các linh kiện điện tử cũng được cấu tạo như vậy,
nhưng từ một mạch cơ bản khác, do tiện lợi hơn.
Từ đó có thể chắc chắn rằng sinh não không
cần gì khác ngoài tổ hợp các neuron để có đủ chức năng xử lý
thông tin vạn năng. Nhưng, ngoài câu hỏi sinh não có những chức
năng nào khác không ? Ít ra còn hai điểm khác nhau lớn cần nói
tới giữa neuron và mạch điện tử của MTĐT. Một là, chức năng ghi
nhớ của sinh não hoàn toàn khác với chức năng ghi nhớ của điện
não, và người ta chưa hiểu hết cơ chế ghi nhớ của sinh não. Điều
người ta biết qua thực nghiệm là các synapses không giống nhau,
với thời gian và qua tần số các xung tín hiệu truyền qua nó, một
synapse có thể trở thành rất nhạy bén (gắn chặt hai neuron với
nhau) hoặc rất lỏng lẻo, lâu không dùng thành ra càng khó kích
động trở lại. Như thế người ta nghĩ rằng chức năng ghi nhớ của
sinh não được thể hiện một cách tổng hợp bằng những cấu hình
liên lạc với nhau chặt chẽ hay lỏng lẻo của một số neuron, chứ
không hề có một nơi nào đó ghi lại một thông tin đơn giản như
một bit của điện não. Và hai là, độ tin cậy trong hoạt động của
sinh não cũng phải được nhìn dưới góc độ hoàn toàn khác, và điều
này cũng do tính chất của các xung tín hiệu, chức năng ghi nhớ
và synapse. Một mặt các xung tín hiệu đến các synapse không phải
là hoặc có hoặc không như trên đã đơn giản hoá, nó có thể mạnh
hay yếu, và synapse có thể ví như cánh cửa hoặc trơn tru dầu mỡ
rất dễ mở, hoặc lâu ngày rỉ sét kẹt cứng. Như thế neuron về thực
chất giống như một cơ chế xử lý thông tin tương tự (một loại máy
tính đặc biệt đã lỗi thời trong đó hàm số liên hệ đầu vào và đầu
ra được mô hình thẳng bằng các một mạng các vật thể điện từ biến
thiên liên tục chứ không thông qua khâu số thức hoá) rất không
chính xác, hơn là một cơ chế số thức, mỗi lần hoạt động nó lại
có tính chất hơi khác trước chứ không phải như một là một, không
là không. Mặt khác hoạt động tổng thể của sinh não lại có độ tin
cậy khá cao do việc bao giờ cũng nhiều neuron tham dự song song
vào một chức năng. Thật là một sai lầm rất ấu trĩ nếu trong các
suy luận về hoạt động tư duy của con người lại lấy cái MTĐT làm
mô hình, như có khi ta đọc được ở đâu đó.
Thế thì ngược lại, có thể lấy sinh não làm mô
hình cho điện não không ? có thể viết chương trình hay cấu tạo
các mạch số thức để cho MTĐT hoạt động giống như một tập hợp
neuron không ? lại phải tụng cái câu thần chú của người làm tin
học : có thể được, nếu mô tả những hoạt động ấy được một cách
đầy đủ và rõ ràng. Nhưng ở đây cần tương đối hoá bớt đi câu ấy,
vì như đã viết trong một lần trước, quá trình hội tụ giữa tin
học và sinh học, cũng như quá trình hợp tác giữa tin học và các
ngành ứng dụng khác, là một vòng xoắn đi lên. Mô tả và mô hình
có thể và cần tương tác với nhau để càng ngày càng đầy đủ và rõ
ràng. Mạng neuron là một lối đi theo hướng ấy, người ta đã thử
nghiệm tương đối thành công và hữu ích những mạng neuron nhỏ
(chắc chưa đến số nghìn) nối với nhau theo kiểu ” mờ “, không
phải 1 hay 0 mà một trị số nào đó ở giữa.
2. Những vấn đề còn lại
Mô hình hoá một số ít neuron thì có khả năng
được, nhưng mô hình hoá bộ não thì chưa. Khó khăn không phải vì
một sự khác biệt khá cơ bản : một bên chỉ có một (vài) bộ xử lý
phức tạp hoạt động và một bên là hàng trăm tỷ bộ xử lý đơn giản
hoạt động song song, vì với vận tốc nhanh hơn hàng chục triệu
lần của điện tử so với neuron người ta sẽ có thể mô phỏng sự
song song bằng sự tuần tự. Có lẽ khó khăn chủ yếu vì sự mô tả bộ
sinh não quá phức tạp hiện nay còn quá mù mờ.
Đến đây chúng ta đi vào một vùng sương khói
mịt mù, chưa thể gọi là lý luận khoa học kinh điển hoàn chỉnh
được mà chỉ có thể nói là những ức đoán của các nhà khoa học mà
thôi. Do đó mặc dù ở trên đã phân biệt các bình diện trí năng và
hoạt động bộ não, không thể trình bày riêng biệt hai bình diện
đó. Hiểu biết về bình diện ở giữa chính là hiểu biết về tính
cách bắc cầu giữa những khái niệm trừu tượng về tư duy con
người, xuống tới các hoạt động của neuron. Thế mà ngay cả những
chữ : trí năng, trí tuệ, tư duy… cũng không có định nghĩa rõ
ràng duy nhất, các định nghĩa tuỳ thuộc lập trường của mỗi nhà.
Và ở đây phải nói tới những hạn chế rất lớn
của phương pháp ” trông mặt mà bắt hình dong ”, tìm cách thể
hiện những đặc tính bề ngoài của sự vật để hy vọng hiểu rõ bên
trong nó. Một thí dụ điển hình là các chương trình đánh cờ, về
mặt hiệu năng chúng đã đạt các kết quả đáng kinh ngạc như thủ
thắng trước vua cờ thế giới, nhưng chúng không giúp gì cho việc
tìm hiểu các cơ chế tư duy của con người cả, các giải thuật cơ
bản nằm dưới chương trình đánh cờ đó hoàn toàn là nhân tạo và
tìm cách khai thác thế mạnh của MTĐT là chính, có cái gì giống
như cái cánh máy bay. Trông mặt mà bắt hình dong là một phương
cách nghiên cứu và sáng tạo, nhưng nó chỉ có thể đưa tới hiểu
biết về hiện thực khi nó được kết hợp với phương pháp quy giản.
Nói cách khác chỉ khi các mô hình trong mỗi tầng lớp của một lý
thuyết được kiểm chứng là sát với các hiện tượng của tất cả các
từng lớp trong quy trình quy giản thì mới có thể cho rằng lý
thuyết đó thích hợp, và giúp cho người ta hiểu hiện thực.
Khi tìm cách áp dụng quy trình tìm hiểu và
kiểm chứng này trên bình diện cao nhất của tư duy và tìm cách
bắc cầu xuống các hoạt động sinh lý của neuron (hay biết đâu, có
thể xuống sâu hơn nữa) thì người ta còn chưa làm được, do sự
phức tạp của bộ sinh não. Do đó, người ta mới chỉ ” trông mặt mà
bắt hình dong ” một cách ” tương đối khan ” mà thôi, nhưng tương
đối, cũng có nghiã là không hoàn toàn từ trên trời rơi xuống.
Hiện nay mỗi nhà khoa học, tuỳ thuộc phạm vi nghiên cứu, đã có
thể vận dụng các hiểu biết của mình để đưa ra những ức đoán về
cây cầu nói trên, với hy vọng các tiến triển của khoa học sẽ cho
phép kiểm nghiệm, và cũng có người cho rằng sẽ không bao giờ
kiểm nghiệm được và các hoạt động đó sẽ mãi mãi thuộc phạm trù
suy tư triết học.
Điểm khởi đầu tương đối giống nhau, đó là các
câu hỏi đã được đặt ra từ lâu đời, thí dụ như : tư duy phản tỉnh
là gì ? tại sao con người có tư duy phản tỉnh (có ý thức về sự
hiện hữu và suy tư của chính mình). Thế nào là một quyết định tự
do ? con người có quyết định tự do hay không ? Ít trừu tượng hơn
là các câu hỏi làm sao phân loại và giải thích khả năng ghi nhớ,
khả năng hiểu biết về ngôn ngữ và khả năng suy luận… Điểm kết
thúc là các cơ chế hoạt động của neuron cộng với các cơ chế
lý-hoá-sinh khác thì cũng giống nhau. Chương trình nghiên cứu đã
khá sáng tỏ và cụ thể, đó là khác biệt căn bản với những suy tư
thuần triết học từ vài chục năm trở về trước.
Thế còn những cây cầu khác nhau ? Có khá
nhiều và chuyên sâu phức tạp, người viết không có khả năng hiểu
hết, nói gì đến trình bày lại. Chỉ xin liệt kê một số tác gia
được coi như bậc thầy trong lĩnh vực này hay lĩnh vực khác.
Trước hết phải nói đến Edelman, giải Nobel về sinh
học, ông khởi đi từ quan niệm các neuron trong bộ óc phát triển
và liên kết trong một quá trình kiểu Darwin, và từ đó nghiên cứu
sự hình thành các bộ phận cao hơn của bộ não, và các khái niệm
triết học trừu tượng nói trên. Minsky, một nhà
khai sáng trong lĩnh vực trí năng nhân tạo tại MIT đưa ra mô
hình “xã hội các tinh thần”, khởi đi từ một thực thể nhân tạo
(gọi là tinh thần) rất đơn giản nhưng cũng có thể mô hình hoá
nhiều tầng phức tạp bằn nhiều cách kết hợp chúng vói nhau.
Chomsky, nhà ngôn ngữ học, với quan niệm về một khả
năng chung nhất của con người về ngôn ngữ, cũng có ảnh hưởng lớn
trong các nghiên cứu về sinh não, tuy ông không trực tiếp tham
gia. Và sau cùng là Penrose, nhà toán lý tên tuổi,
quan niệm rằng hoạt động của bộ sinh não không hoàn toàn có tính
giải thuật, vì thể nào cũng có những tác động trực tiếp của
những quy luật cơ học lượng tử lên trên hoạt động của bộ óc.
Thật khó mà kiểm chứng, nhưng tại sao không ?
(Diễn Đàn Forum số 106, 04.2001)
Hàn Thuỷ
Ghi chú thêm ( tháng 7/2004) :
Khi đọc lại nhanh (vì phải kiểm soát việc chuyển
mã từ bộ chữ cũ sang Unicode), người viết thấy ( ngoài vài chỉnh
sửa nhỏ không đổi nội dung) cần ghi chú thêm hai điểm sau :
1) Hai khái niệm “émergence/réduction” trên
nguyên bản đăng trong Diễn Đàn đã được viết là (tân xuất/ giảm
thiểu) ; nay xin chữa lại là “hợp trội” và “quy giản”. Chữ “quy
giản” hiện nay được nhiều người dùng, rất chỉnh. Còn chữ “hợp
trội” do GS Phan Đình Diệu đề nghị trong bài “Tư Duy Hệ Thống và
Đổi mới Tư Duy”, tạp chí Thời Đại số 6, 01.2002 ; chữ này cũng
rất đạt. Vậy xin sửa lại cho thống nhất thuật ngữ.
2) Trong phần 3 – đoạn 1, câu
: ” …người ta đã chứng minh được rằng chỉ bằng cách ghép
nối khéo léo các mạch ‘VÀ’ như trong hình 4 với nhau là có thể
thực hiện được tất cả các chức năng phức tạp khác của việc xử lý
thông tin…” không hoàn toàn chính xác. Người viết đã quên
còn một hàm số đơn giản mà cần thiết nữa, đó là hàm số phủ định.
Một tín hiệu B là phủ định của A khi nếu A =1 thì B =0, và ngược
lại. Mạch điện tử duy nhất có thể dùng để cấu tạo mọi mạch là
mạch ‘KHÔNG VÀ’ (NAND). Nhưng đó là chi tiết kỹ thuật nhỏ. Điều
đáng chú ý là hàm phủ định trong điện não rất dễ thực hiện và
hầu như có mặt khắp nơi (hễ có tín hiệu A thì thường có tín hiệu
‘không A’). Trong khi đó với sinh não không phải như vậy, con
người dễ lầm lẫn khi thực hiện sự phủ định
©
http://vietsciences.free.fr Hàn
Thủy















