hoangvinh

hoangvinh’s Blog

Đầu thế kỷ 21: Tin học và sinh học hội tụ

Đăng bởi Hoàng Vinh on Tháng Hai 2, 2009

Đầu thế kỷ 21: Tin học và sinh học hội tụ


Vietsciences-Hàn Thủy



Để tưởng nhớ Bùi Mộng Hùng

Trông mặt mà bắt hình dong

Con lợn có béo thì lòng mới ngon

Tục ngữ

Sinh học là môn học về sự sống, muôn màu muôn vẻ. Tin học nói
chung chỉ biết có số không và số một, không có gì khô khan hơn.
Hiện nay đại đa số những người làm tin học không biết gì đến
sinh học, và đa số người làm sinh học cũng chỉ dùng máy tính như
một dụng cụ để viết bài hay tính toán.

Thế nhưng chỉ cần lật xem những tạp chí phổ biến khoa học trong
thời gian vừa qua cũng thấy không hiếm những thông tin hay bài
báo nói về những khảo cứu vận dụng cả hai ngành khoa học – công
nghệ nói trên. Thí dụ một số tựa như : ” Sự thành hình ngành
y khoa xi-be
, L’avènement de la médecine, La
Recherche, tháng 2.2000 ; Phải chăng ngày mai sẽ có
loài vật nhân tạo ?
“, Les animaux artificiels sont-ils pour
demain ?, La Recherche, tháng 10.1998 ; ” Từ Sinh học tới Tin
học
“, De la Biologie à l’Informatique, La Recherche, tháng
2.1999 ; ” Tính toán bằng ADN “, Calculer avec l’ADN,
Pour la Science, tháng 10.1998 ; vân vân, không thể kể hết.
Người ta  luôn luôn gặp những thuật ngữ mới (vì mới quá, xin
phép không dịch vì đây là công việc mà ngay những người trong
nghề cũng phải bàn cãi cẩn thận), như Biopuce, Biocomputer,
Pilule électronique, Algorithme  génétique, mạng neuron

cũng không thể kể hết.

Vậy chuyện gì đang và sẽ xảy ra ? Tầm quan trọng và ảnh hưởng
của nó tới đâu ?

PHẦN 1 : ĐÔI ĐIỀU
KHẲNG ĐỊNH

Tin học và sinh học là hai khoa học – công nghệ đang đảo lộn
sinh hoạt kinh tế, xã hội, sức khoẻ, văn hoá, của con người.
Ngày nay điều này đã hiển nhiên. Hai hành tinh lớn này di chuyển
trên những quỹ đạo độc lập cho tới những năm gần đây, nhưng
những dấu hiệu nêu trên cho thấy chúng sẽ va chạm. Hậu quả ra
sao, một vùng cát bụi mịt mờ, hay sẽ bắn ra một tinh thể mới
tròn trặn và đẹp như trăng rằm ? Đó còn là chuyện tương lai khó
mà đoán trước, nhưng dù sao cũng sẽ là một hiện tượng rất cần để
ý.

Xin mở ngoặc để nói về tựa đề bài này : đặt tên Đầu thế kỷ
21…
vì có lẽ hiện nay không ai dám nói chuyện tiến bộ khoa
học của cả thế kỷ tới ! Hình như những nhà khoa học đang sống
vượt quá số tất cả những người làm khoa học đã khuất của nhân
loại từ thiên cổ. Thế mà năm mươi năm trước đây thôi, có ai
tưởng tượng thế giới ngày nay nó lại như thế này đâu. Thôi thì
cứ cho là dự phóng được trong tầm thập kỷ, và ngay trong tầm
nhìn đó cũng xin phỏng theo một tác giả của Diễn Đàn : có đôi
điều khẳng định
và có đôi điều có lẽ. Kỳ này xin
thông tin và có vài suy nghĩ về đôi điều… có lẽ khẳng định, và
xin để một lần khác bàn về những điều có lẽ… có lẽ. Vì những
điều có lẽ đó sẽ không ngoài giấc mơ cướp quyền tạo hóa, đã có
từ thế kỷ ánh sáng, và vẫn còn gây nhiều bàn cãi triết học cũng
như tôn giáo. Vậy xin trở lại những tiến bộ đã manh nha, và có
thể tới trong tương lai không xa lắm, kết quả của đám cưới Sinh
học – Tin học. Vâng, và sẽ thưa tại sao có con lợn béo dẫn cưới
ở trên.

1. Một
quan hệ lâu đời

Phải nói ngay, đám cưới này có nhiều thế gia vọng tộc đỡ đầu,
thí dụ như Jacques Monod, giải Nobel về sinh học,  trong tác
phẩm nổi tiếng ” Le hasard et la nécessité ” từ năm 1970
đã dành cả một chương bàn về “vi điều khiển học” (nétique
microscopique) ; ngược lại thì điều khiển học do bác học Mỹ
Norbert Wiener đề xướng từ sau thế chiến thứ hai cũng bắt nguồn
từ quan sát các hành vi của sinh vật. Những khái niệm cơ bản của
điều khiển học hiện đã nằm sâu trong tin học, và thuật ngữ điều
khiển học ít được dùng nữa, ngoại trừ việc nó trở lại trong
thuật ngữ “ không gian điều khiển ” (đọc trong một tài
liệu chính thức của Việt Nam để dịch chữ space, trên mặt
báo này đã có lần viết “không gian cyber “). Vậy sinh học
và tin học đã có quan hệ từ lâu đời, nhưng ngày nay càng thắm
thiết hơn. Theo Joël de Rosnay, một bác học nổi tiếng khác của
Pháp thì một trong ba hội tụ về khoa học – công nghệ của đầu thế
kỷ 21 là hội tụ  giữa sinh học và tin học. Hai sự hội tụ kia thì
một là giữa tin học, viễn thông, truyền thông và đa media
; và một là hội tụ giữa môi trường học và kỹ nghệ (Science et
Vie, tháng 12.1999).

Hy vọng Hoàng tử và Công chúa sẽ sống hạnh phúc lâu dài, mà
không bị lời nguyền từ một phù thuỷ ác độc nào đó. Trong truyện
cổ tích người ta thường vẽ phù thuỷ xấu xa dị hợm, nhưng đấy là
cho trẻ con thôi, chứ phù thuỷ thiếu gì phép thuật để tự cho
mình bộ mặt đẹp đẽ. Hãy cảnh giác, phù thuỷ và nàng tiên rất
giống nhau. Với khoa học, khả năng đem lại hạnh phúc cho con
người càng lớn thì sức tàn phá càng ghê gớm. Thôi, câu chuyện đó
ta sẽ bàn với nhau quanh lửa hồng, một đêm trời đầy sao. Bây giờ
cứ cho là cặp này có hạnh phúc dài lâu đi, và sẽ được (ít nhất)
hai người con, đó là : khoa học về bộ não và di truyền học. Nếu
không vì quá dài dòng có thể thêm công nghệ rôbôt, trong đó tin
học mới chỉ mô phỏng sinh học một cách thô lỗ.

Nhưng trước hãy xem những quà cưới của hai họ : sinh học đem lại
gì cho tin học, và tin học đem lại gì cho sinh học ?

2. Trông
mặt mà bắt hình dong

Con lợn có béo thì lòng mới ngon. Hai con lợn béo tốt như nhau
thì bộ đồ lòng cũng ngon như nhau. Ngẫm nghĩ câu tục ngữ này mà
tán thêm như thế thì hoá ra đây không phải chỉ là một quy luật
về loài lợn, nó là một ý tưởng cơ bản trong phương pháp luận của
những nghiên cứu tin học, như trí tuệ nhân tạo, robot, mạng
neuron.
Đó là việc thành lập những mô hình, và điều chỉnh
sao cho quan hệ giữa đầu vào và đầu ra giống như hiện thực.

- Kìa một con lợn béo tốt, muốn hiểu biết bên trong nó phải
làm sao ?

- Thì hãy cố gắng chế tạo một con lợn cũng béo tốt !

Bên ngoài giống nhau thì bên trong chắc cũng có gì giống. Đi đến
cùng ta có trắc nghiệm Turing: đối thoại với một máy tính mà
không phân biệt được với người thì phải công nhận là máy tính có
trí năng.

Có thể phản biện lại rằng “Hai hộp đen có đầu vào và đầu ra hoàn
toàn giống nhau, rất có thể bên trong được chế tạo bằng những
nguyên tắc và giải thuật hoàn toàn khác nhau”. Đúng vậy, và
người ta có thể thực hiện cụ thể những thí dụ như thế, tuy không
dễ. Và hành vi “trông mặt mà bắt hình dong” này nếu là độc nhất
thì quả nhiên không khoa học, hay cùng lắm được gọi là khoa học
sơ khai. Nó phải, và luôn luôn được kết hợp với các hoạt động
khoa học quy phạm khác để tạo ra những mô hình ngày càng hoàn
chỉnh của hiện thực.

Trong khoa học có khám phá, sáng tạo, phân tích, tổng hợp, kiểm
chứng, giải thích… mỗi khái niệm này chỉ nhấn mạnh một khía
cạnh nào đó của một tổng thể những hành vi có liên hệ chặt chẽ
với nhau ; và trong sáng tạo có sự mày mò, tìm kiếm trong mù mờ,
tức tinh thần cứ làm như thể là. Nhưng chính vì cứ làm
như thể là
có một hành tinh khác xáo trộn quỹ đạo của hành
tinh Thiên vương (Uranus) mà Le Verrier đã ” khám phá ” hành
tinh Hải vương (Neptune) vào giữa thế kỷ 19, chỉ bằng tính toán.

Sau khi đưa bằng chứng về dòng dõi thế gia của những mô hình tin
học ta có thể mô tả cái quá trình tiến triển hỗ tương giữa tin
học và sinh học như sau :

* Sinh học tiếp tục nghiên cứu với những phương pháp đặc
thù  của mình, kết hợp các dụng cụ hoá hữu cơ, kính hiển vi,
giải phẫu học… với các nguyên lý tân Darwin để tổng hợp các
ngành sinh học phân tử, di truyền học và phát triển phôi bằng
cách so sánh các sinh vật trong quá trình tiến hoá của chúng từ
đơn giản đến phức tạp… Cho đến nay những tiến bộ diệu kỳ của
sinh vật học, đưa đến những hiểu biết về sinh lý con người, về
các virus và các thành quả y học tương ứng… vẫn hầu như toàn
bộ nằm trong hệ ý niệm đó. Trong tiến trình này máy tính điện tử
chỉ được sử dụng như một công cụ xử lý thông tin phụ giúp cho
người làm khoa học như trong bất cứ ngành nào khác. Nhưng hình
như trong việc nghiên cứu các đối tượng như hoạt động của ADN
trong phát triển phôi (embryologie), hoạt động của bộ não… hai
vấn đề điển hình nhất hiện nay, các nhà sinh vật học đã gặp phải
hàng rào của sự phức tạp, và dùng máy tính điện tử như một công
cụ xử lý thông tin cổ điển để phụ giúp việc lưu trữ, so sánh và
tìm kiếm… không đủ nữa, họ thấy cần thiết nắm lấy công cụ này
một cách sáng tạo để nó phục vụ đắc lực hơn cho mình. Hiện tượng
nổi bật gần đây nhất là Craig Venter, được coi như người đã thủ
thắng trong cuộc chạy đua đọc mã gene, là người đã  dựa vào máy
tính điện tử một cách sáng tạo nhất.

* Trong khi đó tin học, dựa trên những tiến bộ kỹ thuật
về điện tử, về phương pháp lập trình, về viễn thông… càng ngày
càng có những công cụ xử lý thông tin rất mạnh, và do đó càng có
tham vọng đề cập những bài toán mỗi ngày một phức tạp. Xử lý
song song và phân tán, trong đó nhiều máy tính cộng tác với nhau
đang là đề tài nóng bỏng, và các đối tượng sử dụng trong điạ hạt
” vô sinh ” không thiếu, như khí tượng học, như điều khiển hữu
hiệu hơn mạng thông tin toàn cầu đang bung nở tưng bừng… và
người ta lại thấy cần trở lại nguồn cảm hứng ban đầu : có ” bộ
máy ” nào phức tạp, thông minh, bền vững và tin cậy được như một
sinh vật ? Mạng neuron đã bắt đầu có ứng dụng, và đó chỉ là một
mô phỏng rất mờ nhạt của các neuron thực sự, hiểu biết rõ hơn về
hoạt động của neuron chắc chắn sẽ giúp ích nhiều hơn.

* Vòng luẩn quẩn ? Không, đây là một vòng xoáy đi lên.
Không phải là ngành nọ chờ đợi tiến bộ của ngành kia và trong
khi đó dẫm chân tại chỗ, mà chính là một tiến triển hỗ tương,
nhờ ở sự “cứ làm như thể là”, cứ mày mò tìm kiếm với những ước
đoán theo tương tự, với những công cụ không thật sự thích hợp,
với những giả thuyết “cầu âu”. Nhưng cũng với những phân tích,
thí nghiệm, kiểm nghiệm nghiêm ngặt các giả thuyết ấy ; để rồi
cũng có những phát minh, khám phá và giải thích có giá trị ; rồi
khi ấy một tiến bộ bên này sẽ lại giúp đỡ bên kia. Và như thế sẽ
dần dần thành hình một khoa học hoàn chỉnh, với những lý thuyết
sát thực tế hơn và với những công cụ nghiên cứu thích hợp hơn.
Đến đây có lẽ không cần thiết xác định đâu là khía cạnh chính và
đâu là phụ ; tin học và sinh học của thế kỷ 21 sẽ cùng tấn công
vào cái vô cùng phức tạp, cũng như các nhà khoa học từ
thế kỷ 16 tới nay đã tấn công vào cái vô cùng lớn và cái
vô cùng nhỏ.

*
Có thể miễn cưỡng nói đại thể có hai loại phức tạp khác
nhau, cái phức tạp tuyến tính theo chiều sâu và cái phức tạp
trải rộng trên bề mặt do quá nhiều yếu tố khác nhau tác động qua
lại để tạo ra một hiệu ứng nào đó. Tôi viết bài này trong khi
nghe tiếng hát Hồng Nhung trong CD “Đoản khúc thu Hà Nội” ; làm
sao đi từ những con số 0 hay 1 ghi trong CD, qua đầu đọc laser
đi vào máy tính, biến thành sóng điện từ rồi trở thành những âm
thanh ngất ngây trong đầu tôi …

tôi mong về Hà nội, để nghe gió sông Hồng thổi…

tôi mong về Hà nội, tìm lại tiếng ve thời trẻ dại…

Cái phức tạp chiều sâu kỹ thuật đi từ đĩa CD tới âm thanh có lẽ
không còn xa lạ lắm với chúng ta, tuy đã là cả một vấn đề. Nhưng
tại sao tôi thấy tiếng hát hay ngất ngây ? ở đây có biết bao
nhiêu là tín hiệu của các neuron chạy trong đầu ? Trong những
neuron đó còn ghi lại những gì của thời thơ ấu đã trèo sấu, bắt
ve và đổ dế ven đê sông Hồng ? Nếu nhìn sự sống của sinh vật từ
các chuỗi ADN trở đi ta có thể thấy sự vô cùng phức tạp này gồm
cả hai chiều, từ các phân tử prôtein tới tế bào, từ tế bào tới
các bộ phận nhỏ của cơ thể, rồi từ các bộ phận tới toàn thể, ở
mỗi kích thước nghiên cứu đều biết bao nhiêu vấn đề, biết bao
nhiêu tác động qua lại.

Cho tới nay những thành quả của tin học đã có một chiều sâu đáng
kể, chẳng hạn bạn ở xa chỉ cần vào trang nhà của Diễn Đàn trong
mạng Internet, bấm con chuột vài lần là sẽ được ngắm những bức
tranh tuyệt diệu, phố cổ Hà nội của Bùi Xuân Phái. Nếu phải giải
thích từ số không trở đi tại sao làm được như vậy, thì cũng hết
vài ngày. Nhưng còn những nghiên cứu về sự phức tạp do tác động
nhiều yếu tố cộng lại thì phải nói chưa đi đến đâu, các hệ máy
cho phép nối kết những xử lý song song khác nhau, để đưa đến một
trình độ thông minh mới, còn chập chững. Ở đây sự sống của sinh
vật, dù chỉ là những côn trùng giản dị nhất, là một nguồn cảm
hứng và học hỏi rất lớn. Và để lại nói theo kiểu một tác giả
khác : sự sống cũng là một phòng thí nghiệm thiên nhiên vĩ
đại
. Theo chiều ngược lại, các phương pháp mô phỏng bằng tin
học, với toán và logic là nền tảng, có thể cho phép thử nghiệm
rất nhanh những giả thuyết về các cấu trúc sinh học và hoạt động
của chúng.

3. Khoa
học về bộ não

Tìm hiểu hoạt động của bộ não là công trình nghiên cứu đã lâu
đời, với những phương tiện quan sát bên trong như giải phẫu, bên
ngoài như đo các phát sóng điện từ… , kết hợp với quan sát
bệnh lý, làm trắc nghiệm… người ta đã đạt được rất nhiều kết
quả. Ngày nay bộ não đã được phân chia thành nhiều vùng, và
người ta đã xác định được chức năng của mỗi vùng, mặt khác những
điều kiện sinh hoá cần thiết cho bộ não hoạt động cũng ngày càng
rõ, và các dược phẩm chữa trị các bệnh liên quan tới não càng
ngày càng nhiều và hữu hiệu. Nhưng càng biết thêm càng thấy
nhiều câu hỏi.

Trong đầu con người có khoảng 100 tỷ neuron, mỗi neuron được nối
với nhiều neuron khác bằng những synapses, một neuron có
thể có đến hơn nghìn synapses, và số synapses tổng
cộng lại được ước lượng khoảng 1 triệu tỷ. Tín hiệu được truyền
qua thân neuron tới các synapses, và tùy
theo trạng thái của chúng mà một hay nhiều neuron khác sẽ được
kích thích để tiếp tục truyền tín hiệu. Đó là mức thấp nhất,
nhưng từ đó tổ chức lên các tầng trên như thế nào, có thể có
được một bản đồ chi tiết của một bộ não tới từng neuron
không ? Thêm nữa, bộ óc con người ta không giống nhau, vậy đâu
là cái tổng quát và đâu là phần đặc thù ? Bộ óc lại biến chuyển
với thời gian theo cuộc sống của từng người, vậy đâu là phần bẩm
sinh và đâu là phần lịch sử cá nhân ?

Các phương tiện tin học có thể mô phỏng một cấu trúc như vậy hay
không ? Xin thưa về mặt kỹ thuật hoàn toàn có thể được, chỉ chưa
biết phải làm cụ thể thế nào thôi ! Nhưng may
mắn thay có Darwin. Vì nếu tin rằng con người do tiến hoá từ các
sinh vật giản dị hơn mà ra, thì người ta có thể, và đã luôn
luôn thành công khi làm như vậy
, nghiên cứu những sinh vật
giản dị hơn để từng bước hiểu biết thêm về con người. Nghiên cứu
về bộ não cũng vậy, các nhà sinh vật học đã thấy rằng cấu trúc
của bộ não con người còn giữ lại nhiều dấu vết của ‘tổ tiên’ từ
xưa, rất xưa.

4. ADN, ồ
thật là giản dị

Sinh học có thể đuợc coi như bắt đầu từ lúc, với phát
minh kính hiển vi, người ta khám phá ra là các sinh vật là một
tập hợp các tế bào, mô tả tế bào lần đầu được xuất bản năm 1667.
Kể từ đó, một chuỗi dài các nghiên cứu về thực và động vật đã
đưa tới đỉnh cao là khám phá ra cấu trúc ADN của Watson và Crick
năm 1953. Từ đó người ta có thể nói như sau :

* Sinh vật chủ yếu gồm một tập hợp các tế bào, các tế
bào lại phân hoá theo những nhiệm vụ khác nhau và được kết cấu
với nhau trong những bộ phận khác nhau của cơ thể. Tế bào có
màng bao bọc, chứa một dung dịch hữu cơ và một hạt nhân. Trong
hạt nhân có các nhiễm sắc thể (chromosomes). Nhiễm sắc
thể mang đầy đủ các thông tin cần thiết để làm nảy sinh một sinh
vật. Tức cũng mang đầy đủ các yếu tố di truyền. Mỗi tế bào có
khả năng, trong những điều kiện nhất định, tự chia đôi thành hai
tế bào, làm cho sinh vật tăng trưởng.

* Nhiễm sắc thể là một tập hợp các gene. Mỗi gene
là một chuỗi xoắn đôi ADN ( Acides DesoxyriboNucléiques, ouf
!
). Người viết bài này không biết gì về sinh học thì chỉ
nhớ được rằng mỗi chuỗi xoắn đôi ADN có thể được mô tả bằng một
ngôn ngữ chỉ có 4 chữ cái là A, T, G và C (các phân tử hữu cơ).

* Tại sao lại gọi chuỗi xoắn đôi, và nó có 2 nhánh xoắn
quanh nhau và gắn bó theo một quy luật nhất định : A bên này nối
với T bên kia, và G bên này với C bên kia. Biết một nhánh tức là
biết đầy đủ cấu trúc hoá học của gene. Thần kỳ của tạo hoá là
làm ra cái máy tính ADN như thế. Vì trong khi sinh trưởng hai
nhánh của một chuỗi có thể tách ra độc lập và tổng hợp từ các
chất hữu cơ của tế bào cái nửa còn thiếu của mình. Để cuối cùng
thành hai chuỗi, và một tế bào thành hai tế bào.

* Công việc của các chuỗi ADN không phải chỉ là như thế,
mà nó còn thường trực tổng hợp các protein để tạo nên hình hài
cho cơ thể. Để làm việc này ADN phát ra những mẩu “câu chữ” của
mình dưới một dạng khác gọi là ARN (Acides RiboNucléiques),
trong đó chỉ có chữ T được thay bằng một chữ khác (tức là một
phân tử hữu cơ khác), chữ U. ARN là một thông điệp mà ADN gửi
đến cho một “đơn vị ngoại vi” khác của tế bào, các Ribosome, có
khả năng tổng hợp khoảng 100 ngàn protein theo yêu cầu, tức là
theo ARN mà nó nhận được.

* Các tế bào đầu tiên giống nhau, nhưng rồi dần dần phân
hoá các hoạt động. Trong sự phân hoá này người ta chưa hiểu rõ :
tại sao, tuy các ADN trong mỗi tế bào đều giống hệt nhau, nhưng
lại có thể nhả ra các ARN khác nhau để tổng hợp các protein khác
nhau. Các gene trong một tế bào hoạt động song song, nhưng có
những gene bỗng không hoạt động nữa…

* Người ta biết lờ mờ về ‘trách nhiệm’ của một số gene
trong một vài trường hợp bệnh lý, nhưng các nhà sinh học đều cho
rằng nhiều chức năng của cơ thể là do nhiều gene ‘hợp tác’ đảm
nhiệm.

Đó là tóm tắt những điều người viết bài này, làm nghề tin học,
nghĩa là biết một ít về tin học và mù tịt về sinh học, tìm hiểu
được, và múa rìu qua nhiều mắt thợ trình bày như trên. Hy vọng
sẽ có những cao nhân chỉ giáo thêm. Nhưng cũng có thể hãnh diện
mà nói rằng : thế thì nếu thay trong 4 chữ mỗi chữ bằng 2 bít là
viết được cấu trúc của gene trong máy tính rồi. Theo những tin
cuối cùng người ta hy vọng sẽ đọc mã được hết các gene của con
người trong năm nay. Con người có khoảng từ 30 000 đến 35 000
gene, mỗi gene là một chuỗi ADN rất dài, trung bình khoảng 200
000 chữ. Vậy đọc mã được toàn bộ gene của con người tức là viết
ra được 6 tỷ chữ, 12 tỷ bít. Đọc mã chưa phải là giải mã, nhưng
người ta đã đi được vài bước đầu, tức là không phải hoàn toàn mù
tịt về hoạt động và chức năng của một số gene. Phương pháp vẫn
là nghiên cứu các sinh vật đơn giản, so sánh mã gene của các
sinh vật khác nhau, hay của những mẫu khác nhau của cùng một
loài sinh vật, suy đoán giữa khác biệt về gene và bệnh lý…

Đây mới là bước đầu, cũng như có CD của Hồng Nhung mà không biết
làm sao làm máy nghe. Hay có một chương trình tin học rất lớn
dưới dạng nhị nguyên mà không có tài liệu giải thích và cho biết
cách dùng. Nhưng bước đầu này hứa hẹn những tiến bộ rất lớn
trong sinh học và áp dụng trong y học nói riêng. Nhìn dưới góc
độ tin học thì mỗi tế bào là một máy tính có 30 000 bộ xử lý
chạy song song và cộng tác với nhau. Người ta sẽ có mã các
chương trình của mỗi máy tính, không dài lắm, nhưng cũng chưa
biết chi tiết chúng hoạt động ra sao. Tương lai còn nhiều khó
khăn nhưng mang đầy hứa hẹn.

(Diễn Đàn Forum, số 98, 07.2000)

PHẦN 2 : ĐÔI ĐIỀU CÓ LẼ

Kỳ trước (xem Diễn Đàn số 98 / 7.2000) đã điểm
qua một số tiến bộ khoa học mà người ta hy vọng có thể đạt được
trong tương lai gần, nhờ ở sự hội tụ giữa Sinh học và Tin học.
Sự hội tụ này nhờ ở khả năng mô hình hoá của Tin học ngày càng
cao, tấn công được vào những hiện tượng vô cùng phức tạp mà
những nghiên cứu về sinh học càng đi sâu càng đặt ra nhiều.
Những tiến bộ ấy nằm trong hai phạm trù nghiên cứu : khoa học về
bộ não và di truyền học, với những thành công hiện đã manh nha,
như mạng neuron, đọc và giải mã gene. Ở đây chỉ bàn về những vấn
đề liên hệ đến khoa học luận, vì báo chí đã nói quá nhiều trên
những ứng dụng của tin học và sinh học. Những ứng dụng này có
ảnh hưởng xã hội và kinh tế rất lớn, và không phải hoàn toàn
chắc chắn là sẽ theo chiều hướng tốt. Chính vì thế lại càng cần
thiết nắm bắt nội dung của các ngành nghiên cứu này.

Nhưng, để tiếp tục trình bày về những viễn tưởng
xa, mênh mông… và manh mong… hơn, xin được phép nhìn chung
cảnh quan từ điểm khởi đầu, theo người viết bài hiểu được. Cái
nhìn khởi đầu đó là nhận thức rằng đối tượng của tư duy con
người nằm trong ba thế giới : thế giới vật chất, thế giới của sự
sống, và thế giới tư tưởng. Về quan điểm này nguời viết hoàn
toàn đồng ý với Phan Huy Đường, trong cuốn Penser
librement
(xem giới thiệu trong Diễn Đàn số 99, 9.2000).

Nhưng nếu lối tiếp cận của tác giả, theo triết
học duy vật biện chứng, là chất vấn những quan hệ của tư duy với
ba thế giới đó một cách tổng thể, thì lối tiếp cận của các người
nghiên cứu khoa học vẫn là tách bạch bản thân mình, chủ thể tư
duy khoa học, và đối tượng tư duy, mặc dù phạm vi của đối tượng
đó ngày càng rộng lớn và sâu xa. Mặc dù đối tượng tư duy khoa
học có thể bao gồm sự sống và tư tưởng. Và phương pháp luận vẫn
là chia nhỏ, khu biệt các vấn đề, đi từng bước, phân tích và
tổng hợp, tìm kiếm sự đồng thuận tối đa qua lý thuyết và thực
nghiệm.

Từ những thành công cục bộ và cụ thể như đã nói
kỳ trước, con người ngày nay đã trở lại những tham vọng cướp
quyền tạp hoá đã có từ muôn thuả, với phần nào tự tin hơn, và
với phương pháp chặt chẽ hơn. Vì những câu hỏi tại sao ?
như thế nào ?
không dấu được cái tham vọng làm thế
nào ?
nằm trong. Trong viễn cảnh nói tới ở đây, công
việc là đi tìm cái cầu nối giữa thế giới vật chất và thế giới
của sự sống, và tìm cách bắc cầu từ thế giới sự sống đến thế
giới tư duy. Nói cách khác, như thế là đã đặt được hai câu hỏi
cụ thể hơn : từ vật chất nảy ra sự sống như thế nào ? và từ sự
sống nảy ra tư duy như thế nào ? Tuy về mặt thực nghiệm các câu
hỏi này vẫn nằm trong hai phạm trù nghiên cứu : khoa học về bộ
não, và sinh học phân tử, trong tương lai dĩ nhiên người ta sẽ
dùng bất cứ phương pháp, lý thuyết, kết quả cụ thể nào của các
ngành khoa học khác khi cần thiết.

Vậy sau khi xem xét về phương pháp luận của sự
bắc cầu, sẽ xin điểm lại một vài dự phóng về hai khoa học trên.
Rồi cuối cùng cũng không thể không nhắc tới những phê phán (gồm
cả sự tự phê phán của các nhà khoa học) về bản thân việc áp dụng
phương pháp khoa học trên những đối tượng như sự sống và tư duy.

1. Quy giảnHình 1 :

Hình 1 đi
kèm dưới đây tượng trưng một cách giản lược hệ thống hiểu biết
khoa học hiện nay. Hiểu biết được chia thành nhiều bình diện có
trật tự trên dưới, tuy không phải là một trật tự tuyến tính.
Càng ở phía dưới thì càng đơn giản và càng đi sâu vào những cấu
tạo và cấu trúc cơ bản nhất của thế giới vật chất.

Hình
1
:
Các tầng lớp của hiểu biết khoa học chính xác, tầng
trên cùng là viễn cảnh

Ở mỗi bình diện người
ta nhận diện được những thực thể (entités) và nghiên cứu để nắm
bắt được những quan hệ (relations) giữa những thực thể ấy. Trong
hình vẽ, thực thể là các hình khối và quan hệ giữa chúng là
những đường nối các hình khối. Như ta thấy ở đây, một thực thể ở
bình diện trên có thể được giải thích như là một tập hợp những
thực thể và quan hệ ở bình diện dưới. Thí dụ như thực thể nguyên
tử của hoá học (và những tính chất của nó) có thể được giải
thích bởi những hạt lượng tử đã kết cấu với nhau theo những quy
luật nhất định của cơ học lượng tử. Các quan hệ ở bình diện trên
cũng có thể được giải thích bởi những quan hệ ở bình diện dưới.

Nói như trên sợ bị hiểu nhầm là khoa học chính
xác chỉ có một cái nhìn hoàn toàn tĩnh lặng về hiện thực. Dĩ
nhiên không phải như vậy, khoa học chính xác cũng nghiên cứu sự
thay đổi trong tính chất của các thực thể và trong quan hệ của
chúng. Và chính sự thay đổi và các quy luật thay đổi này mới là
những điều đáng chú ý. Sau đây xin gọi chung những sự vật, quan
hệ, biến đổi… mà khoa học khảo sát ở mỗi bình diện là những
hiện tượng
. Và phương pháp luận đi tìm những giải thích của
một hiện tượng ở bình diện cao bằng những hiện tượng ở bình diện
thấp hơn được gọi là phương pháp ‘quy giản’ (reductionisme).

Quy giản là gì : khi một hiện tượng hay quy luật
ở một bình diện cao được phát hiện (thường là trong quá khứ),
người ta có khuynh hướng cho rằng đó là một quy luật ” trời cho
“, nó là như thế, không có gì để giải thích cả. Nhưng như thế
thì tích tụ lại càng ngày trời cho càng nhiều, khó nhớ ; và vì
chúng có vẻ như độc lập với nhau, khó áp dụng linh hoạt. Vì thế
nghiên cứu khoa học là tìm ra trong các quy luật đó một số ít
quy luật ở bình diện cơ bản hơn, để có thể từ đó suy ra nhiều
quy luật thực nghiệm ở bình diện đời thường, đưa tới sự thống
nhất và nhất quán của khoa học tự nhiên qua tác động  hai chiều,
phân tích từ trên xuống và tổng hợp từ dưới lên.

Thí dụ quy luật nổi tiếng mà Archimède (thế kỷ
thứ ba trước tây lịch) trong một phút xuất thần đã phát hiện :
mọi vật khi nhúng xuống chất lỏng thì bị đẩy lên bằng một sức
đẩy ngang với số chất lỏng được chứa trong thể tích mà nó chiếm
chỗ
. Cho tới thời khoa học cổ điển của thế kỷ 17 không ai
tìm cách giải thích định luật ấy cả, nó là như thế, và nó bao
giờ cũng đúng. Hoặc giả nếu ta đặt lại mình vào thời cổ đại chắc
cũng có thể nghĩ như sau : chiếm chỗ của nó thì bị nó đẩy là
tự nhiên, càng chiếm nhiều chỗ thì càng bị đẩy mạnh
. Nhưng
tại sao lại đẩy lên, mà không đẩy ra, hay đẩy
xuống
?

Với những hiểu biết cơ học và hoá học hiện nay,
thì một em học sinh tú tài có thể giải thích được định luật
Archimède theo phương pháp quy giản : Lực đẩy là do tác dụng
tổng hợp của các phân tử trong chất lỏng khi va chạm vào vật thể
(A) bị nhấn chìm mà thành. Làm sao tính toán được tác dụng ấy ?
nếu đi vào phân tích thì sẽ bị khó khăn, nhưng em học sinh có
thể lý luận khôn khéo như sau : thí dụ ta cũng nhận chìm một vật
thể khác (B) giống hệt vật thể ấy (A), nhưng có một vỏ bọc rất
mỏng, tác dụng không đáng kể, và chứa cùng chất lỏng của môi
trường bên ngoài. Hiển nhiên là (B) chịu một lực tổng hợp bằng
không, vì nếu không chất lỏng trong bình sẽ phải lưu chuyển theo
một chiều hướng nhất định. Vậy thì (B) chịu một sức đẩy bằng
trọng lượng của nó và ngược chiều (tức là đẩy lên). Và vì (B)
giống hệt (A) nên (A) cũng chịu sức đẩy đó. Vậy thì, thưa
thầy, em đã chứng minh được định luật Archimède
. Cũng cùng
điểm khởi đầu đó, rằng vật chất ở thể khí và thể lỏng được tập
hợp bởi các phân tử luôn luôn va chạm vào nhau trong khoảng
không, người ta có thể giải thích tại sao trong cùng điều kiện
nhiệt độ và áp suất thì số phân tử của các khí khác nhau lại
bằng nhau (số Avogrado), hay là tại sao khi trộn lẫn hai chất
lỏng khác nhau thì thể tích dung dịch lại có thể nhỏ hơn hai thể
tích khi tách rời cộng lại. Ba chuyện đời thường tưởng như chẳng
ăn nhập gì với nhau.

2. Hợp trội và quy giản

Nhưng cũng có những người cho rằng có những hiện
tượng không thể được giải thích sâu hơn mà là những quy luật
riêng của bình diện trên, ‘tổng thể lớn hơn các thành phần cộng
lại’. Đó là hiện tượng ‘emergence’: có một cái gì mới mẻ xuất
hiện ở bình diện cao hơn mà ta không thể giải thích bằng những
khái niệm dùng ở bình diện thấp hơn. Ở đây xin tạm dịch hai chữ
‘phénomène émergent’ trong nghĩa này là ‘hiện tượng hợp trội’.
Trên thực tế, trước kia người ta công nhận : nước có những đặc
tính mà khinh khí và dưỡng khí đứng riêng là không có, bởi vậy
phải nghiên cứu, thực nghiệm và suy luận ngay trên đối tượng là
nước chứ không phải chỉ nghiên cứu dưỡng khí và khinh khí là có
thể suy ra những đặc tính của nước. Nhưng hiện nay, với
cơ học lượng tử, người ta tin rằng có thể làm việc này,
tuy rằng những phương trình cần giải quyết là hết sức phức tạp,
và trên thực tế người ta vẫn cần đến khái niệm nước và những đặc
tính của nó, dù chỉ để nói chuyện với nhau cho ngắn gọn. Tuy
nhiên phải nói thêm là trong công việc suy ra nói trên
không phải chỉ có tính toán, người ta có thể đi một con đường
thô thiển hơn nhưng cũng có hiệu quả trước mắt hơn, đó là sử
dụng những phương tiện rất mạnh của tin học để mô hình hoá và mô
phỏng một cách gần đúng phân tử nước.

Như vậy quan niệm về các hiện tượng hợp trội vẫn
rất cần thiết, không những thế một hiện tượng hợp trội còn đặt
ra thêm công việc cho công tác khoa học : áp dụng tiến trình quy
giản vào hiện tượng này để hiểu rõ nó sâu sắc hơn, và biết đâu,
có thể đi đến phủ định hay hoàn chỉnh một khía cạnh nào đó của
các quy luật cơ bản.

Những bàn cãi về sự đối lập giữa hợp trội và
quy giản là rất lý thú, và có liên hệ mật thiết đến những vấn đề
trong khoa học luận về sự phức tạp nói chung, và sinh học nói
riêng.

Trở lại Hình 1 ở trên, ta thấy ở
tầng cơ bản nhất là hai lý thuyết về bản thể của vũ trụ : thuyết
tương đối và thuyết lượng tử, hai thuyết này hiện nay coi như
giải thích được tất cả các hiện tượng của đời thường. Nhưng có
phải vì thế mà có thể bỏ qua hai ngành khoa học là hoá học và
vật lý học cổ điển như chúng ta vẫn học ? Dĩ nhiên là không, để
mô tả và khảo sát các thực thể của đời thường thì hai ngành học
này vẫn có những giá trị không thể bỏ qua. Người làm sinh học
phân tử có thể không cần biết đến cơ học lượng tử nhưng không
thể không nắm vững hoá học. Tương tự như vậy, người làm công
nghệ nói chung cũng có thể chỉ cần nắm vững hoá học và vật lý
học cổ điển.

Vậy đặc điểm nào cho phép một bình diện trung
gian là cần thiết ? Dĩ nhiên là những thực thể và quan hệ nằm
trong bình diện đó phải đủ bền vững trong phạm vi nghiên cứu
thích hợp. Thứ hai là những quy luật tự nhiên trong bình diện ấy
cũng phải được phát biểu bằng những khái niệm của chính nó. Bởi
thế trong quá khứ chúng đã là những ngành học gần như độc lập.
Và có trước các ngành vật lý học cơ bản mà hiện nay làm nền tảng
cho nó.

Điều ngày có ý nghĩa gì ? Trước hết là vì trong
quá khứ các ngành khoa học cổ điển đã có một hệ thống khái niệm
và ngôn ngữ riêng, nhất quán và tự đầy đủ trong phạm vi nghiên
cứu của nó. Nhưng với thời gian các hiện tượng mới được phát
hiện, và những khái niệm, quy luật, ngôn ngữ riêng của bình diện
đó đã trở nên không đủ để giải thích hết mọi hiện tượng. Vì nếu
chúng là đầy đủ thì có lẽ chẳng bao giờ người ta lại cần tìm
hiểu sâu hơn.
Đó là giai đoạn sau. Nhưng như thế không
phải là loại bỏ nền tảng cũ mà là làm cho nó giàu hơn lên. Chẳng
hạn, khi cơ học lượng tử đi sâu hơn để thành lập nền tảng vững
chắc và đầy đủ hơn cho hoá học, thì không phải là loại bỏ bình
diện hoá học, mà chính lại làm cho nó giàu có hơn bằng những vật
chất và hiện tượng mới, phát biểu được bằng ngôn ngữ của hoá học
cổ điển được sửa chữa để trở nên tinh tế hơn.

Quan hệ qua lại giữa hai bình diện hoá học và sinh học phân tử
cũng tương tự.

Nhưng vấn đề lý thú đặt ra ở đây là quan hệ giữa ba bình
diện : Những dấu chấm hỏi trong các mũi tên phía trái của
Hình 1
muốn nêu lên vấn đề sau : vậy hoá học, với những
khái niệm, thực thể, quan hệ của nó… có thể làm nền tảng để
giải thích
toàn bộ toàn bộ sinh học phân tử không ? ở đây
dùng chữ giải thích chứ không dùng chữ hiểu, vì muốn

hiểu cũng cần ngắn gọn, tức là không chỉ cần dùng ngôn ngữ,
khái niệm riêng của sinh học mà còn nghiên cứu và thực nghiệm
trên những thực thể sinh học. Vấn đề ở đây phức tạp hơn nhưng
tương tự như bài toán với nước, dưỡng khí và khinh khí ; trên
nguyên tắc có thể quan niệm là khi muốn phân tích sâu hơn thì
mỗi hiện tượng sinh học có thể được giải thích bằng hoá học, nếu
hoá học là một tầng lớp trung gian đầy đủ. Trừ phi là không,
nghĩa là có các hiện tượng lượng tử tác động một cách
ma quái nào đó lên các hiện tượng quan sát được ở mức độ sinh
học phân tử, mà không thông qua những hiện tượng trung gian của
hoá học như nguyên tử và phân tử.

Tại sao không như thế ? Và nếu lấy thí dụ ở các ngành khác thì
có những hiện tượng đời thường trong cõi vô sinh là không thể
giải thích được bằng cơ học cổ điển, dù cho chấp nhận chỉ gần
đúng thôi ; hơn thế nữa, người ta không thể chế tạo được nhiều
vật liệu hiện nay nếu không trực tiếp ứng dụng cơ học lượng tử,
không chỉ thông qua những quy luật của hoá học và cơ học cổ
điển. Câu hỏi càng trở nên thích thú khi ta đặt vấn đề tương tự
cho bình diện tư duy.

3. Từ vô sinh đến hữu sinh và công nghệ sinh học

Thế nào là sự sống ? Ngoại trừ thi sĩ : ” ngày sau sỏi đá
cũng cần có nhau
” chắc ai cũng có thể nói được là sỏi đá là
vô sinh, yên nhiên tự tại, chẳng cần ai cả. Nhưng sỏi đá khác
một sinh vật ở chỗ nào ? nói chung những bài học vỡ lòng về sinh
vật học bảo rằng có thể gọi một thực thể là sinh vật khi chúng
có ít nhất ba đặc tính : 1) có tiêu thụ (và sa thải) vật chất và
năng lượng ; 2) có tăng trưởng ; và 3) có sinh sản ; và tự thực
hiện những đặc tính đó trong một môi trường thích hợp ; có lẽ
trong đó tự sinh sản là đặc điểm chủ yếu nhất. Chẳng thế
mà chữ ’sinh’ được dùng để phân chia hai thế giới.

Nhưng tự sinh sản là một cái vòng luẩn quẩn : quả trứng và con
gà. Và chúng ta đã biết, để phá vỡ cái vòng luẩn quẩn đó là cả
mấy nghìn năm suy luận, quan sát và thực nghiệm.

Aristote cho rằng trong mọi vật đều hàm chứa một nguyên lý
tĩnh, principe passif,
đó là vật chất (matière), khi gặp một
nguyên lý động, principe actif, tức là hình thể (forme)
trong điều kiện thích hợp thì nảy sinh sự sống. Nguyên lý động
là cái gì rất trừu tượng, một khả năng làm cho vật chất
nảy sinh. Con người phương Tây bằng lòng với cách giải thích đó
cho tới thời hiện đại từ nửa sau thế kỷ 16. Nhưng từ đó cũng còn
cãi nhau chán chê mới bỏ được cái tên đổi mới của principe
actif
tức là principe vital, nguyên lý sự sống, cũng
chẳng khác gì. Vì tựu trung như thế vẫn bảo vệ quan niệm : sự
sống (của một sinh vật) là tự nhiên xuất hiện. Cho tới
những thí nghiệm của Pasteur thì nói chung mọi người mới công
nhận : sự sống là do sự sống mà ra, còn trước đó ? thì do đấng
tối cao sáng tạo muôn loài. Từ một quan niệm vô thần và siêu
hình sang tới một quan niệm cũng vẫn siêu hình, nhưng hữu thần,
tuy nhiên phù hợp hơn với quan sát và thực nghiệm khoa học trong
một khoảng thời gian ngắn.

Đến giữa thế kỷ 19 với Darwin người ta mới thực sự chấp nhận
đông đảo rằng sự sống có thể từ vô sinh mà ra, rồi tiến hoá
trong một thời gian dài hàng tỷ năm mới thành ra muôn loài như
hiện nay. Như thế đặt ra hai khẳng định : trong những điều kiện
thích hợp các chất hữu cơ dần dần trở nên phức tạp, và đến một
lúc nào đó có thể hợp trội một thực thể hữu cơ có khả
năng tự sinh sản, sinh vật ; và đến lúc nào đó thì trong quần
thể sinh vật đó lại hợp trội một quần thể sinh vật khác
phức tạp hơn. Người ta có thể tự bằng lòng với một lý thuyết
chung chung như vậy, vì giải thích một cách khoa học những bước
nhảy vọt là rất khó. Không tránh được phải đưa vào những yếu tố
ngẫu nhiên, nhưng sự ngẫu nhiên có thể được mô phỏng bằng tin
học. Ngoài ra tính toán những đặc tính của các phân tử hữu cơ
phức tạp hơn hàng nghìn lần phân tử nước là một điều không thể
giải bằng những phương trình chính xác được. Người ta lại vẫn
phải dùng phương pháp mô hình hoá và mô phỏng bằng tin học. Trên
thực tế hiện nay trong các phòng bào chế dược phẩm lớn người ta
đã dùng máy tính và phương pháp mô phỏng để tiên đoán đặc tính
của những phân tử hữu cơ mới mà họ muốn tổng hợp.

Nói chung hiện nay lý thuyết tân Darwin, trong đó sự phân hoá
dựa trên đột biến của các gene, và sau đó thì mới tới sự tồn tại
của các sinh vật mới thích hợp nhất với môi trường, gần như được
đồng thuận trong các nhà sinh vật học. Và đúng là sự đột biến đó
là ngẫu nhiên do các gene bị biến đổi bởi tác động của các hạt
lượng tử. Thế thì sự hợp trội cũng có thể được giải thích bởi
phương pháp quy giản với điều kiện sử dụng những khái niệm ở
tầng cơ bản nhất. Và bản thân những khái niệm của cơ học lượng
tử lại hàm chứa hiện tượng ngẫu nhiên như một thuộc tính cơ bản
của thế giới vật chất.

Vậy phải chăng có nghĩa là con người không có khả năng tác động
lên các sinh vật hay sáng tạo ra các sinh vật mới ?

Câu trả lời tuỳ thuộc thế nào là tác động, và thế nào là sáng
tạo. Đúng là làm lại như tạo hoá bằng một quá trình hàng tỷ năm
thì con người không có điều kiện, nhưng còn biến chế, tổ hợp lại
trên cơ sở những chất liệu đã có sẵn, thì tại sao không ? Và
thực chất là công nghệ sinh học đang làm chuyện đó. Hiện nay còn
ở mức thủ công mò mẫm vì người ta còn chưa hiểu hết tác động
tổng hợp của các gene, cũng như tác động của môi trường chung
quanh lên trên sự phát triển phôi, vì vấn đề còn rất phức tạp.
Ngăn chặn một con virus như virus SIDA còn chưa xong, huống hồ.
Nhưng có thể nói là những nghiên cứu về vi sinh vật sẽ có những
tiến bộ rất lớn, với tiềm năng nguy hiểm cũng rất lớn. Những
thực vật và sinh vật với gene được cải tạo thì đã có rồi, tiềm
năng hứa hẹn cũng như nguy hiểm tiềm tàng đã thành vấn đề thời
sự.

Còn liệu trong vài thập kỷ hay vài thế kỷ tới liệu người ta có
thể sản xuất ra được những Frankeinstein ? chưa thể nói. Vấn đề
đặt ra một cách ngông cuồng là như sau : liệu có thể tác động
lên gene để từ đó làm thành các siêu nhân hay siêu quái vật, như
ý muốn. Như thế có nghĩa là đã nắm vững được toàn bộ quá trình
phát triển từ đặc thái di truyền (génotype) tới đặc
thái hiện tượng (phénotype)
trong một môi trường tăng trưởng
nhất định. Dĩ nhiên người ta sẽ bắt đầu bằng các sinh vật rất
giản dị, chỉ có một số rất ít neuron, còn với những sinh vật
phức tạp hơn thì hoạt động của bộ não còn chưa hiểu, nói chi đến
điều khiển gene để cuối cùng có được bộ não như ý muốn. Có lẽ
trong nhiều thập kỷ nữa nghiên cứu về bộ não, kết hợp với nghiên
cứu về trí năng nhân tạo còn là một ngành độc lập với sinh học
phân tử và di truyền.

(Diễn Đàn Forum số 104, 02.2001)

PHẦN 3 : SINH NÃO VÀ ĐIỆN NÃO

Chữ điện não bộ, nếu người viết không nhớ
sai, được dùng ở Trung Quốc để dịch chữ computer (Anh,
Mỹ) hay ordinateur (Pháp), mà miền Nam ngày xưa gọi là

máy điện toán, ngày nay phổ biến trong nước là máy tính
điện tử
(MTĐT). Khi dùng lại chữ điện não trong tiểu
tựa người viết không có ý đồ bàn về thuật ngữ, mà chỉ vì nó
thích hợp với khung cảnh của bài. Thật vậy, khi MTĐT mới ra đời,
người ta hồ hởi nghĩ rằng nó sẽ thay thế cho bộ óc con người
(gọi là sinh não cho gọn ), nên trên báo chí tại Âu Mỹ
cũng đã thấy dùng những chữ như : cerveau electronique,
electronic brain…
Tuy rằng đó chưa bao giờ là những thuật
ngữ chính thức của các nhà tiên phong về tin học, đa số trong họ
đều tin vào khả năng thay thế sinh não bằng điện não
trong tương lai. Các nghiên cứu trong chiều hướng đó chưa
bao giờ bị gián đoạn, nhưng hiện nay chúng ta đều biết tác dụng
kinh tế xã hội rất to lớn của tin học không phải ở chỗ nó đã
thay thế được tư duy của con người, mà ở chỗ nó trở thành một
công cụ hỗ trợ rất hữu hiệu. Trên thực tế sử dụng đại trà hiện
nay, MTĐT cơ bản chỉ làm được hai chuyện, một là tính toán với
vận tốc hàng tỷ phép tính một giây, và hai là lưu trữ và tìm
kiếm thông tin nhanh từ phần nghìn giây đến vài giây, trong một
khối lượng thông tin rất lớn ; và với sự bùng nổ của Internet
những thông tin đó có thể nằm bất cứ đâu trên toàn cầu. Còn
những chuyện rất đơn giản với sinh não, như nhận ra ngay một
gương mặt quen biết, thì MTĐT lại chưa làm được chuẩn xác và
nhanh bằng.

Phải chăng quan hệ giữa điện não và sinh não
cũng như giữa con chim và chiếc máy bay ? Ước mơ bay bổng của
con người, từ Icare buộc cánh chim vào tay, qua những chiếc máy
(không) bay đầu tiên có cánh vỗ giống hình chim, chỉ thành hiện
thực với các máy bay có cánh cố định, không vỗ, không có chức
năng động cơ. Chúng đã không còn gì là bắt chước con chim nữa,
chúng chỉ làm được một chuyện là vận tải đường không, nhưng làm
tốt hơn thiên nhiên rất nhiều, chở hàng trăm người xuyên đại
dương trong vài giờ.

Sự so sánh trên có phần đúng về hiện tượng,
nhưng như thế là bỏ qua một khía cạnh có tính bản chất : các
công cụ nhân tạo như xe hơi, máy bay… là các sản phẩm vật chất
được quan niệm và chế tạo cho một mục đích nhất định, còn
MTĐT là một công cụ trừu tượng vạn năng
. Trừu tượng, vì điều
quan trọng trong MTĐT không phải là cái hộp đựng bộ vi xử lý và
ổ đĩa, cộng bàn phím và màn hình, mà là những chương trình nằm
trong bộ nhớ của máy ; và chương trình cũng chỉ là một chuỗi chữ
viết mà thôi. Và vạn năng, vì khi người ta thay đổi chương trình
thì khả năng của MTĐT cũng thay đổi.

- ” Tôi phản đối, nói như vậy có thể bảo đó là
đa năng chứ chưa phải là vạn năng “.

- Vâng, đúng là

có thể làm nhiều việc khác với có thể làm mọi việc.
Nhưng thực ra MTĐT vẫn là vạn năng, theo một cách hiểu ” chuyên
môn ” hơn : bất cứ điều gì có thể được mô tả hoàn toàn đầy đủ
và chính xác
thì có thể viết chương trình giao cho nó thực
hiện ; dĩ nhiên với hai hạn chế : thời gian nó làm nhiệm vụ
không thể bằng không (trên thực tế với sức máy hiện nay thì đây
không còn là vấn đề), và để thực hiện những nhiệm vụ có ảnh
hưởng vật chất tức thời thì cần cho nó những bộ phận cơ khí và
điện từ vào-ra thích hợp để đóng vai trò tai mắt và chân tay.
Hiện đã có hàng tỷ bộ vi xử lý làm những công việc như vậy trong
máy bay, xe hơi, máy ảnh… và khi đó nó trở thành một bộ phận
trong những công cụ chuyên dụng như những công cụ chuyên dụng
khác, nhưng mềm dẻo, dễ dùng và rẻ hơn.

Xin mở ngoặc về dòng chữ mô tả hoàn toàn đầy
đủ và chính xác,
đây chính là cốt lõi trong việc ứng dụng
tin học trong mọi vấn đề, và đây là khâu của con người, nó quyết
định phần lớn sự thành bại trong một đề án tin học hoá. Đó là
chuyện thường ngày, nó giải thích tại sao các chuyên gia tin học
là những người rất ” ma nhắc “, hoạnh hoẹ tỉ mỉ đủ mọi thứ
chuyện mỗi khi cần đến họ. Vì như có người nói ” con quỷ nằm
trong các chi tiết “, có cái gì không chạy mà lại hỏi chuyên gia
cây nhà lá vườn, thí dụ như ” tại sao máy tôi nó không chịu
in… ” là sẽ bị hỏi lại : ” anh đã làm thế nào ? … ” vì nếu
không biết đủ chi tiết thì không thể đối diện cái MTĐT, trong
mọi trường hợp từ nhỏ đến lớn.

Trở lại việc so sánh sinh não và điện não. Trong
hình 2 dưới đây, bình diện tư duy của hình 1 trong bài trước
được phân tích chi tiết hơn thành ba bình diện : trí năng, hoạt
động của bộ não, và hoạt động của neuron. Dĩ nhiên với sự phức
tạp của tư duy thì phân chia tuyến tính như thế rất là đại khái,
đây không phải là một giải thích khoa học, mà chỉ là  những cái
mốc để bàn luận và so sánh mà thôi. Bên cạnh là hình vẽ tương tự
cho tin học.

Hình 2 : Các tầng lớp trong
hoạt động tư duy,và của các hệ thống tin học

Tương ứng với các
chương trình ứng dụng tin học chỉ xin để một chữ trí năng
mà thôi, vì tuy hoạt động tư duy của con người còn nhiều mặt
khác, tất cả những gì máy tính làm được cho đến nay chắc làchưa
đầy một chữ trí năng này. Còn những nghiên cứu để dùng
tin học mô phỏng các chuyện khác như trực giác, sáng tạo… sẽ
xin được nói sau. Ở đây có vài dòng về thuật ngữ trí tuệ nhân
tạo
đã được dùng quen, theo thiển ý nên sửa lại là trí
năng nhân tạo
(theo đề nghị của giáo sư Hồ Thuần ở Việt
Nam), vì trong trí tuệtuệ giác, một khái niệm
của duy thức học Phật giáo khác hẳn, nếu không nói là đối lập
với, tư duy thuần lý ; điều mà máy tính hoàn toàn chưa có (cũng
vì tuệ giác là cái gì chưa mô tả được hoàn toàn đầy đủ và rõ
ràng ! chỉ có thể bản thân mỗi người thể nghiệm mà thôi).

Trong bình diện tương đương với những hoạt động
khác nhau của bộ não mà hiện nay người ta đã có một số hiểu
biết, như nghe, nhìn, vận dụng ngôn ngữ… có thể sắp đặt một số
những giải thuật và cấu trúc có tính cơ bản và tổng quát của tin
học. Và bình diện cuối cùng đặt ngang hàng hai công cụ nhỏ nhất
từ đó xây dựng các bình diện trên : neuron của sinh não và các
mạch điện tử của điện não. Sau đây xin đi vào chi tiết từ dưới
lên trên, qua đó ta có thể tóm tắt một số kết quả và vấn đề
tương lai của công việc nghiên cứu hội tụ tin học – sinh học.


1. Neuron và transistor

Hai hình vẽ 3 và 4 là loại có trong nhiều sách
báo phổ biến khoa học vì chúng đem lại những thông tin đã vững
chắc từ khoảng vài chục năm nay. Hình 3 cho thấy sự cấu tạo và
hoạt động của neuron, và hình 4 biểu diễn một trong vài hàm
lôgic cơ bản nhất dùng trong MTĐT.

Mỗi neuron là một tế bào, có màng bao bọc và hạt
nhân nằm trong, nhưng thay vì chỉ có một màng bao bọc ‘nhẵn’,
màng neuron được gắn với nhiều dây tủa ra gọi là dendrites
(thượng nguồn) và một sợi axon (sợi thần kinh) mảnh dẻ
vài micron, nhưng dài có khi đến vài chục cm, axon cũng
kết thúc bằng một chùm dendrites (hạ nguồn), phần thân tế bào và
hạt nhân còn được gọi là soma. Dendrites của một số
neuron có thể được gắn với bắp thịt và các giác quan, nhưng phần
lớn hơn là để nối các neuron với nhau, điểm nối này gọi là
synapse
(synaptic knob). Đa số các neuron chỉ nối với các
neuron khác mà không có liên hệ với ‘bên ngoài’, các dendrites
của axon nối với các dendrites của soma hay nối thẳng vào soma.

Hình 3 : Cấu trúc Neuron và chi tiết.
Theo ” The emperor’s new mind “;
Roger Penrose ; nxb Oxford University, 1990

Có thể coi neuron
như một cơ chế xử lý thông tin. Neuron hoạt động như sau : Tín
hiệu được truyền đi từ soma, qua axone, dendrites hạ nguồn, tới
các synapses gắn với các neuron khác, vận tốc truyền vào khoảng
vài trăm mét một giây, và soma hoạt động theo nhịp, mỗi giây có
thể truyền đi khoảng từ 1 tới 1000 xung tín hiệu, nhịp điệu này
tuỳ theo loại neuron và trạng thái hoạt động của bộ não như
thức, ngủ… Nói tín hiệu được truyền đi theo nhịp nghiã là axon
có thể truyền một trong hai trạng thái đơn giản nhất, ‘có’ và
‘không’, tuỳ theo soma có bị kích thích hay không, nếu đúng nhịp
mà không có một chất hoá học đặc biệt gọi là

neurotransmetteur truyền qua các synapse tới các neuron
khác, thì có nghĩa là không. Chất neurotransmetteur được
chế tạo tại chỗ chứ không phải là được truyền qua axon và
dendrite, cái được truyền đi là một loại tín hiệu hoá-điện rất
chậm so với vận tốc truyền điện trong dây đồng.



Hình 4 :

Mạch Logic ‘ VÀ’ ( AND).

Theo ” Les nouvelles
frontières de la connaissance” ; André Rousset ; nxb Ellipses, 1993.

Vậy khi nào thì soma bị kích thích ? điều này
tuỳ thuộc các dendrites thượng nguồn cuả nó có thu thập (từ các
neuron khác qua các synapses, hay từ các giác quan) đủ các chất
hoá học truyền tới nó hay không. Và như thế là ta có hơn một
trăm tỷ bộ máy ‘xử lý thông tin’ đơn giản và có cơ chế hoạt động
giống nhau, nối chằng chịt với nhau để hợp thành sinh não.

Theo như mô tả ở trên thật không có gì hoàn
toàn tương đương trong các cấu phần cơ bản của sinh não và điện
não, nhưng về chức năng thì tương đương : tín hiệu được truyền
đi hay không truyền đi, theo nhịp điệu. Mạch vẽ trong hình 4
cũng có thể coi như một neuron rất đơn giản, chỉ có hai đầu vào
và một đầu ra, đầu ra được kích thích và truyền đi tín hiệu khi
cả hai đầu vào đều có tín hiệu. Mạch này hoạt động như sau : Khi
không có tín hiệu thì các transistors dẫn điện, và vì điện trở
của nó khi đó rất nhỏ so với điện trở dẫn tới đầu ra (3), cho
nên chỉ cần một trong hai đầu vào (1) hay (2) không có tín hiệu
là coi như điện chạy xuống, và không có điện ở đầu ra. Ngược lại
chỉ khi cả hai đầu vào có tín hiệu, nghiã là cả hai transistor
đều ngắt điện, thì khi ấy điện mới chạy tới đầu ra, thành tín
hiệu.

Thật đơn giản, quá đơn giản. Nhưng vì thế mà
hiện nay nhịp hoạt động của nó lên tới hàng tỷ lần mỗi giây. Một
bên thì rất nhiều đầu vào đầu ra (có thể tới số nghìn) và rất
chậm còn một bên thì rất ít vào ra, nhưng rất nhanh. Mặt khác
người ta đã chứng minh được rằng chỉ bằng cách ghép nối khéo léo
các mạch ‘VÀ’ như trong hình 4 với nhau là có thể thực hiện được
tất cả các chức năng phức tạp khác của việc xử lý thông tin,
trên thực tế các linh kiện điện tử cũng được cấu tạo như vậy,
nhưng từ một mạch cơ bản khác, do tiện lợi hơn.

Từ đó có thể chắc chắn rằng sinh não không
cần gì khác ngoài tổ hợp các neuron để có đủ chức năng xử lý
thông tin vạn năng. Nhưng, ngoài câu hỏi sinh não có những chức
năng nào khác không ? Ít ra còn hai điểm khác nhau lớn cần nói
tới giữa neuron và mạch điện tử của MTĐT. Một là, chức năng ghi
nhớ của sinh não hoàn toàn khác với chức năng ghi nhớ của điện
não, và người ta chưa hiểu hết cơ chế ghi nhớ của sinh não. Điều
người ta biết qua thực nghiệm là các synapses không giống nhau,
với thời gian và qua tần số các xung tín hiệu truyền qua nó, một
synapse có thể trở thành rất nhạy bén (gắn chặt hai neuron với
nhau) hoặc rất lỏng lẻo, lâu không dùng thành ra càng khó kích
động trở lại. Như thế người ta nghĩ rằng chức năng ghi nhớ của
sinh não được thể hiện một cách tổng hợp bằng những cấu hình
liên lạc với nhau chặt chẽ hay lỏng lẻo của một số neuron, chứ
không hề có một nơi nào đó ghi lại một thông tin đơn giản như
một bit của điện não. Và hai là, độ tin cậy trong hoạt động của
sinh não cũng phải được nhìn dưới góc độ hoàn toàn khác, và điều
này cũng do tính chất của các xung tín hiệu, chức năng ghi nhớ
và synapse. Một mặt các xung tín hiệu đến các synapse không phải
là hoặc có hoặc không như trên đã đơn giản hoá, nó có thể mạnh
hay yếu, và synapse có thể ví như cánh cửa hoặc trơn tru dầu mỡ
rất dễ mở, hoặc lâu ngày rỉ sét kẹt cứng. Như thế neuron về thực
chất giống như một cơ chế xử lý thông tin tương tự (một loại máy
tính đặc biệt đã lỗi thời trong đó hàm số liên hệ đầu vào và đầu
ra được mô hình thẳng bằng các một mạng các vật thể điện từ biến
thiên liên tục chứ không thông qua khâu số thức hoá) rất không
chính xác, hơn là một cơ chế số thức, mỗi lần hoạt động nó lại
có tính chất hơi khác trước chứ không phải như một là một, không
là không. Mặt khác hoạt động tổng thể của sinh não lại có độ tin
cậy khá cao do việc bao giờ cũng nhiều neuron tham dự song song
vào một chức năng. Thật là một sai lầm rất ấu trĩ nếu trong các
suy luận về hoạt động tư duy của con người lại lấy cái MTĐT làm
mô hình, như có khi ta đọc được ở đâu đó.

Thế thì ngược lại, có thể lấy sinh não làm mô
hình cho  điện não không ? có thể viết chương trình hay cấu tạo
các mạch số thức để cho MTĐT hoạt động giống như một tập hợp
neuron không ? lại phải tụng cái câu thần chú của người làm tin
học : có thể được, nếu mô tả những hoạt động ấy được một cách
đầy đủ và rõ ràng. Nhưng ở đây cần tương đối hoá bớt đi câu ấy,
vì như đã viết trong một lần trước, quá trình hội tụ giữa tin
học và sinh học, cũng như quá trình hợp tác giữa tin học và các
ngành ứng dụng khác, là một vòng xoắn đi lên. Mô tả và mô hình
có thể và cần tương tác với nhau để càng ngày càng đầy đủ và rõ
ràng. Mạng neuron là một lối đi theo hướng ấy, người ta đã thử
nghiệm tương đối thành công và hữu ích những mạng neuron nhỏ
(chắc chưa đến số nghìn) nối với nhau theo kiểu ” mờ “, không
phải 1 hay 0 mà một trị số nào đó ở giữa.


2. Những vấn đề còn lại

Mô hình hoá một số ít neuron thì có khả năng
được, nhưng mô hình hoá bộ não thì chưa. Khó khăn không phải vì
một sự khác biệt khá cơ bản : một bên chỉ có một (vài) bộ xử lý
phức tạp hoạt động và một bên là hàng trăm tỷ bộ xử lý đơn giản
hoạt động song song, vì với vận tốc nhanh hơn hàng chục triệu
lần của điện tử so với neuron người ta sẽ có thể mô phỏng sự
song song bằng sự tuần tự. Có lẽ khó khăn chủ yếu vì sự mô tả bộ
sinh não quá phức tạp hiện nay còn quá mù mờ.

Đến đây chúng ta đi vào một vùng sương khói
mịt mù, chưa thể gọi là lý luận khoa học kinh điển hoàn chỉnh
được mà chỉ có thể nói là những ức đoán của các nhà khoa học mà
thôi. Do đó mặc dù ở trên đã phân biệt các bình diện trí năng và
hoạt động bộ não, không thể trình bày riêng biệt hai bình diện
đó. Hiểu biết về bình diện ở giữa chính là hiểu biết về tính
cách bắc cầu giữa những khái niệm trừu tượng về tư duy con
người, xuống tới các hoạt động của neuron. Thế mà ngay cả những
chữ : trí năng, trí tuệ, tư duy… cũng không có định nghĩa rõ
ràng duy nhất, các định nghĩa tuỳ thuộc lập trường của mỗi nhà.

Và ở đây phải nói tới những hạn chế rất lớn
của phương pháp ” trông mặt mà bắt hình dong ”, tìm cách thể
hiện những đặc tính bề ngoài của sự vật để hy vọng hiểu rõ bên
trong nó. Một thí dụ điển hình là các chương trình đánh cờ, về
mặt hiệu năng chúng đã đạt các kết quả đáng kinh ngạc như thủ
thắng trước vua cờ thế giới, nhưng chúng không giúp gì cho việc
tìm hiểu các cơ chế tư duy của con người cả, các giải thuật cơ
bản nằm dưới chương trình đánh cờ đó hoàn toàn là nhân tạo và
tìm cách khai thác thế mạnh của MTĐT là chính, có cái gì giống
như cái cánh máy bay. Trông mặt mà bắt hình dong là một phương
cách nghiên cứu và sáng tạo, nhưng nó chỉ có thể đưa tới hiểu
biết về hiện thực khi nó được kết hợp với phương pháp quy giản.
Nói cách khác chỉ khi các mô hình trong mỗi tầng lớp của một lý
thuyết được kiểm chứng là sát với các hiện tượng của tất cả các
từng lớp trong quy trình quy giản thì mới có thể cho rằng lý
thuyết đó thích hợp, và giúp cho người ta hiểu hiện thực.

Khi tìm cách áp dụng quy trình tìm hiểu và
kiểm chứng này trên bình diện cao nhất của tư duy và tìm cách
bắc cầu xuống các hoạt động sinh lý của neuron (hay biết đâu, có
thể xuống sâu hơn nữa) thì người ta còn chưa làm được, do sự
phức tạp của bộ sinh não. Do đó, người ta mới chỉ ” trông mặt mà
bắt hình dong ” một cách ” tương đối khan ” mà thôi, nhưng tương
đối, cũng có nghiã là không hoàn toàn từ trên trời rơi xuống.
Hiện nay mỗi nhà khoa học, tuỳ thuộc phạm vi nghiên cứu, đã có
thể vận dụng các hiểu biết của mình để đưa ra những ức đoán về
cây cầu nói trên, với hy vọng các tiến triển của khoa học sẽ cho
phép kiểm nghiệm, và cũng có người cho rằng sẽ không bao giờ
kiểm nghiệm được và các hoạt động đó  sẽ mãi mãi thuộc phạm trù
suy tư triết học.

Điểm khởi đầu tương đối giống nhau, đó là các
câu hỏi đã được đặt ra từ lâu đời, thí dụ như : tư duy phản tỉnh
là gì ? tại sao con người có tư duy phản tỉnh (có ý thức về sự
hiện hữu và suy tư của chính mình). Thế nào là một quyết định tự
do ? con người có quyết định tự do hay không ? Ít trừu tượng hơn
là các câu hỏi làm sao phân loại và giải thích khả năng ghi nhớ,
khả năng hiểu biết về ngôn ngữ và khả năng suy luận… Điểm kết
thúc là các cơ chế hoạt động của neuron cộng với các cơ chế
lý-hoá-sinh khác thì cũng giống nhau. Chương trình nghiên cứu đã
khá sáng tỏ và cụ thể, đó là khác biệt căn bản với những suy tư
thuần triết học từ vài chục năm trở về trước.

Thế còn những cây cầu khác nhau ? Có khá
nhiều và chuyên sâu phức tạp, người viết không có khả năng hiểu
hết, nói gì đến trình bày lại. Chỉ xin liệt kê một số tác gia
được coi như bậc thầy trong lĩnh vực này hay lĩnh vực khác.
Trước hết phải nói đến Edelman, giải Nobel về sinh
học, ông khởi đi từ quan niệm các neuron trong bộ óc phát triển
và liên kết trong một quá trình kiểu Darwin, và từ đó nghiên cứu
sự hình thành các bộ phận cao hơn của bộ não, và các khái niệm
triết học trừu tượng nói trên. Minsky, một nhà
khai sáng trong lĩnh vực trí năng nhân tạo tại MIT đưa ra mô
hình “xã hội các tinh thần”, khởi đi từ một thực thể nhân tạo
(gọi là tinh thần) rất đơn giản nhưng cũng có thể mô hình hoá
nhiều tầng phức tạp bằn nhiều cách kết hợp chúng vói nhau.
Chomsky
, nhà ngôn ngữ học, với quan niệm về một khả
năng chung nhất của con người về ngôn ngữ, cũng có ảnh hưởng lớn
trong các nghiên cứu về sinh não, tuy ông không trực tiếp tham
gia. Và sau cùng là Penrose, nhà toán lý tên tuổi,
quan niệm rằng hoạt động của bộ sinh não không hoàn toàn có tính
giải thuật, vì thể nào cũng có những tác động trực tiếp của
những quy luật cơ học lượng tử lên trên hoạt động của bộ óc.
Thật khó mà kiểm chứng, nhưng tại sao không ?

(Diễn Đàn Forum số 106, 04.2001)

Hàn Thuỷ

Ghi chú thêm ( tháng 7/2004) :

Khi đọc lại nhanh (vì phải kiểm soát việc chuyển
mã từ bộ chữ cũ sang Unicode), người viết thấy ( ngoài vài chỉnh
sửa nhỏ không đổi nội dung) cần ghi chú thêm hai điểm sau :

1) Hai khái niệm “émergence/réduction” trên
nguyên bản đăng trong Diễn Đàn đã được viết là (tân xuất/ giảm
thiểu) ; nay xin chữa lại là “hợp trội” và “quy giản”. Chữ “quy
giản” hiện nay được nhiều người dùng, rất chỉnh. Còn chữ “hợp
trội” do GS Phan Đình Diệu đề nghị trong bài “Tư Duy Hệ Thống và
Đổi mới Tư Duy”, tạp chí Thời Đại số 6, 01.2002 ; chữ này cũng
rất đạt. Vậy xin sửa lại cho thống nhất thuật ngữ.

2) Trong phần 3 – đoạn 1, câu
: ” …người ta đã chứng minh được rằng chỉ bằng cách ghép
nối khéo léo các mạch ‘VÀ’ như trong hình 4 với nhau là có thể
thực hiện được tất cả các chức năng phức tạp khác của việc xử lý
thông tin…”
không hoàn toàn chính xác. Người viết đã quên
còn một hàm số đơn giản mà cần thiết nữa, đó là hàm số phủ định.
Một tín hiệu B là phủ định của A khi nếu A =1 thì B =0, và ngược
lại. Mạch điện tử duy nhất có thể dùng để cấu tạo mọi mạch là
mạch ‘KHÔNG VÀ’ (NAND). Nhưng đó là chi tiết kỹ thuật nhỏ. Điều
đáng chú ý là hàm phủ định trong điện não rất dễ thực hiện và
hầu như có mặt khắp nơi (hễ có tín hiệu A thì thường có tín hiệu
‘không A’). Trong khi đó với sinh não không phải như vậy, con
người dễ lầm lẫn khi thực hiện sự phủ định


©

http://vietsciences.free.fr
Hàn
Thủy


Để lại hồi âm

XHTML: Bạn có thể sử dụng những thẻ sau: <a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <pre> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <strike> <strong>