hoangvinh

hoangvinh’s Blog

Archive for the ‘Bài viết - VN’ Category

Tại Sao Việt Nam Thích Hay Không Thích Trung Quốc?

Đăng bởi Hoàng Vinh on Tháng Mười Hai 19, 2007

Tại Sao Việt Nam Thích Hay Không Thích Trung Quốc?

Hơn hai ngàn năm qua, dân tộc Việt Nam đã phát triển thành một Quốc Gia được đánh dấu bằng một nhân tố cố định và không thay đổi. Việt Nam nằm sát Trung Quốc, có nhiều mối quan hệ mật thiết như cách thành lập, tổ chức đời sống gia đình, phong tục tập quán, không gian, thời gian có nhiều sự gần gũi nhau. Bên cạnh những giá trị chia xẻ đó cũng có những đắng cay tủi nhục trong sự cạnh tranh nhau, lấn áp nhau. Không có nước nào ở Đông Nam Á Châu có nền văn hóa gần Trung Quốc bằng Việt Nam và cũng không có nước nào gần Trung Quốc mà vẫn còn tồn tại lâu dài đến ngày hôm nay như Việt Nam.

Chống trả lại sự khống chế của Trung Quốc Việt Nam phải trả một giá khá khủng khiếp về nhân mạng, đời sống, kinh tế và thỏa hiệp chính trị. Trung Quốc đã từng ban nhiều ân huệ cho Việt Nam và cũng từng nguyền rủa Việt Nam đến tận trời xanh. Hiện nay nền văn hóa Việt Nam vẫn còn tồn động nhiều ảnh hưởng của Trung Quốc chưa hoàn toàn tách rời. Và huyền thoại một Trung Quốc khổng lồ vẫn còn ở phương Bắc. Việt Nam luôn nghĩ họ là một con ác quỷ đầy nanh vuốt với các nước bé nhỏ xung quanh.

Hơn một ngàn năm Trung Quốc chiếm đóng Việt Nam. Với tham vọng lấn xuống miền Nam, đời nhà Hán, lúc đó là (Nam Việt) và sự khẳng định độc lập của Việt Nam (Đại Việt năm 967 sau Công Nguyên) như là một Quốc Gia tiền đồn của các nước Cambodia, Lào, Thai Lan với nền văn minh ảnh hưởng sâu đậm với Trung Quốc trong vùng Đông Nam Á.

Trong khi những Quốc Gia khác ở Đông Dương (Indochina) thì ảnh hưởng Phật Giáo Theravada nối liền với văn hóa Nam Á. Việt Nam được ưu thế hơn, ảnh hưởng sự pha trộn Phật Giáo “ Lão Giáo” và “ Khổng Giáo”. Cho đến thế kỷ thứ 17th chữ Quốc Ngữ ra đời. Trước đó các học giả Việt Nam thường viết theo lối chữ người Trung Hoa, hoặc theo lối “ Chữ Nho” Chữ nho phát sinh từ những đặc thù của chữ Trung Hoa mà ra.

Qua nhiều thế kỷ, Việt Nam được phát triển trong một khuôn khổ chuyển thể từ Vương Quốc Trung Hoa, với một trạng thái tập trung thứ bậc cai trị theo luật lệ quyền lực của nhà vua và được sự chỉ đạo từ Trung Quốc. Những người cai trị ở nước ta là những người có học ảnh hưởng văn hóa Trung Quốc là những nhà nho được rèn luyện theo chế độ quan liêu.

Cả Việt Nam lẫn Trung Quốc đều biết có những liên kết sâu xa về văn hóa, điều này đã trói buộc họ lại với nhau, nhưng cả hai đều không tin tưởng lẫn nhau.

Trong những thế kỷ dài dưới sự chiếm đóng của Trung Quốc, Việt Nam đã thu nhận rất nhiều nền văn hóa Trung Quốc, đồng thời cùng một lúc Việt Nam lại tranh đấu không ngừng để bảo vệ đất nước và sự độc lập của riêng mình.

Trong thời gian của triều đại Tăng ở thế kỷ 6 & 9 , những du kích Việt Nam đã có những bài hát về chiến tranh để nói lên sự riêng biệt và xác minh rõ ràng Việt Nam không lệ thuộc Trung Quốc với những từ ngữ sau:

Fight to keep our hair long
Fight to keep our teeth black
Fight to show that the heroic southern country can never be defeated.

Tạm dịch là:

Đấu tranh cho tóc chúng tôi còn dài
Đấu tranh cho răng chúng tôi mãi còn đen
Đấu tranh để thấy nước Nam Anh Hùng không bao giờ thua trận

Mặc khác, nếu Việt Nam không tuân theo điều kiện của họ đưa ra, thì sau đó là một cuộc trừng phạt ghê gớm sẽ xảy ra. Nếu Việt Nam chống đối những tiêu chuẩn của Trung Hoa đề ra, hoặc phản đối chống lại sự kiểm soát của họ thì hàng ngàn binh hùng tướng dữ sẽ tràn ngập lên xứ sở nhỏ bé Việt Nam. Điều này quá rõ ràng trong lịch sử. Trước đây Vua (Taizong)Tống Thái Tông đã gởi một thông điệp quan trọng cho Việt Nam dưới thời vua Lê Đại Hành năm 979, sau một năm Việt Nam khẳng định nền độc lập.

Vua Tống Thái Tông luôn nghĩ rằng họ là người chủ, là quyền uy tối thượng đã kêu gọi Lê Đại Hành (Lê Hoàn) hãy mau giao nạp phần lãnh thổ cho Trung Hoa. Ông đã mạt sát Việt Nam với những lời lẽ vô cùng bỉ ổi và trịch thượng “ Mặc dù biển Việt Nam có nhiều ngọc trai, núi của các bạn có vàng chúng tôi sẽ liệng nó vào đống rác. Chúng tôi không thèm muốn những thứ đó. Các người là những kẻ man rợ. Chúng tôi có ngựa, có xe kéo, có gạo, có rượu. Hãy để chúng tôi thay đổi phong tục tập quán của các anh. Chúng tôi có sách vở để học, có kỳ thi tuyển lựa tài năng. Hãy để chúng tôi dạy các anh những hiểu biết về luật lệ phổ thông. Các anh có muốn thoát khỏi cuộc đời man rợ của một ốc đảo để sống một cuộc sống văn minh. Các người hãy vứt bỏ những áo quần bằng cỏ, bằng lá để mặc những bộ áo dệt bằng vải có thêu dệt bông hoa của núi rừng, rồng, phượng . Các anh có hiểu được điều đó không?”.

Vua Lê Đại Hành hiểu ý nhà vua Tống Thái Tông muốn gì và ý đồ của những người kế vị sau này. Lê Đại Hành mong muốn truy nhập nền văn học và văn minh của Trung Hoa, nhưng không muốn bị điều khiển, áp bức dưới quyền lực chính trị của Trung Hoa có thể làm nguy hại đến nền độc lập của Việt Nam. Thái độ này đã làm phẫn nộ vua Tống Thái Tông, đó chính là lý do khiến Trung Hoa tiến chiếm để trừng phạt.

Năm 1407 Đế Quốc nhà Minh lên nắm quyền, đã lên tiếng xác nhận lại quyền điều khiển các nước láng giềng cứng đầu đòi độc lập. Điều này không còn nghi ngờ nào khác là Hoàng Đế Minh Thành Tổ(Yongle) đang nhìn ngó và muốn thôn tính đất nước Việt Nam để áp đặt chính sách cai trị của họ. Đương nhiên là Việt Nam không bao giờ bằng lòng thái độ ỷ mạnh hiếp yếu của Trung Quốc. Dĩ nhiên, tiếp theo là cuộc xâm lăng của Trung Hoa và sự chống trả của Việt Nam một lần nữa vào năm 1428.

Hoàng Đế Minh Thành Tổ nỗi giận vì sự chống trả quyết liệt của Việt Nam. Mặc dù Việt Nam chỉ là một nước triều cống của Trung Hoa. Nhưng ông ta muốn nhấn mạnh rằng Việt Nam là một tỉnh của Trung Hoa đã từng hưởng thụ những lợi ích và nền văn minh Trung Hoa mà họ lại cố tình từ chối những đặc ân đó. Việt Nam vẫn cương quyết chống đối, cuối cùng vua Minh Thành Tổ đã dùng sức mạnh quân đội trừng phạt Việt Nam một cách dã man đầy khủng khiếp.

Trung Hoa luôn xem họ như là một con khổng lồ, không có quốc gia nào giám chống đối họ. Nhưng họ là một giống người man rợ, đầy bỉ ổi. Họ đã dùng những hình tượng tình dục mạnh mẽ về tình cảm gia đình trong mối quan hệ thân thiết vợ chồng, họ cố tình xâm phạm, phá vỡ những liên hệ gia đình của người Việt Nam. Cho nên năm 248 có nữ anh hùng Bà Triệu được sự ủng hộ của nhân dân đứng lên đánh đuổi quân Tàu ra khỏi bờ cõi, cởi bỏ xiềng xích nô lệ, không cúi đầu trước kẻ thù, không làm vợ lẽ cho bất cứ ai.

Những lời lẽ oai hùng đầy hào khí của bà Triệu đã trở thành một biểu tượng cho người đàn bà anh hùng Việt Nam. Từ thời Bà Triệu với lối hành sử và ngôn ngữ đầy thô bỉ về bắt ép tình dục của người Trung Hoa với đàn bà Việt Nam.(có nhiều bài thơ đời Đường có nói về sự nô lệ và cưỡng ép tình dục đàn bà Việt Nam của Thi Sĩ (Yuan Chen) Đến ngày hôm nay sự bùng nổ lên tình trạng buôn bán tình dục đàn bàn Việt Nam sang Taiwan đã làm phẫn nộ nhục nhã cho những người đàn ông Việt Nam.

Trong tác phẩm của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp xuất bản năm 1987 “ Fíred Gold Vietnamese” đã nói những đặc trưng giá trị lớn nhất của Việt Nam, cũng như sự yếu kém và thua thiệt hiên nay với một quốc gia nhỏ bé, không đủ sức ngang bằng quyền lực. Một người con gái còn trinh tiết bị một người Trung Hoa văn minh hãm hiếp dày vò, họ đã bị khinh miệt, họ xem thường tất cả, họ hưởng thụ trên nỗi nhục nhã với sự cướp hiếp vô nhân tính.

Người Trung Hoa tin rằng, Việt Nam là Quốc Gia rất gần gũi với họ, đã chịu ảnh hưởng nền văn minh và văn hóa Trung Hoa sâu đậm. Nhưng, Việt Nam đã ý thức được điều gì đó, cho nên đã từ chối tiếp nhận nền văn minh Trung Hoa từ thế kỷ này sang thế kỷ khác không chịu trở thành một phần của Trung Hoa như thâm tâm họ mong muốn. Điều này đã tồn tại mãi đến ngày hôm nay.

Trong thời gian chiến tranh Indochina lần thứ hai, Trung Hoa đã phát biểu và nhấn mạnh rằng Việt Nam và Trung Quốc kết tình hữu nghị thắm thiết như môi và răng.

Sau khi người Mỹ bỏ rơi miền Nam Việt Nam, CS Bắc Việt cưởng chiếm miền Nam, lại một lần nữa Việt Nam tuyên bố độc lập và liên kết với Liên Sô năm 1978 – 79.

Sau đó xâm lăng nước láng giềng Cambodia và lật đổ đồng minh của Trung Quốc ở Đông Nam Á Khờ Me đỏ (Khmer Rouge) Lúc này Trung Quốc nỗi giận không còn kềm chế được cho nên Bắc Kinh đã nhất quyết dạy cho đàn em vô ơn một bài học. Lãnh tụ Trung Quốc ông Deng Xiao Ping (Đặng Tiểu Bình) đã công khai tố cáo Việt Nam như một “côn đồ”. (Lời lẽ này được nhà ngoai giao Thái Lan viết lại trong một bài bình luận) Ông cũng đoán trước rằng sự thay đổi đường hướng của Việt Nam sẽ có những phản ứng to lớn với Đặng Tiểu Bình. Có đoạn ông viết: Trung Quốc thù ghét Việt Nam đến tận xương tủy, Ông ta đã dậm gót giày, nhổ nước bọt và gọi Việt Nam là loài chó ghẻ. Ông đã ra lệnh cho Deng tư lệnh quân đội đem quân trừng phạt. Năm 1979 Trung Quốc đánh chiếm năm tỉnh phía Bắc thủ đô Hà Nội để dạy cho Việt Nam một bài học về hậu quả trong sự phản bội với Trung Quốc, đó mới chỉ là bài học tượng trưng.

Nhưng sau cùng ai là người học bài học của ai? Thứ nhất Bắc Kinh muốn Việt Nam rút hết quân ra khỏi Cambodia, nhưng Việt Nam không nghe lời Trung Quốc cho dến khi Hoa Kỳ và Liên Hiệp Quốc lên tiếng can thiệp thì Việt Nam mới rút quân trở về.

Tổn thất đôi bên cân bằng nhau, nhưng Trung Quốc rất mất mặt đối với Quốc Tế, vì đó là hành động xâm lược.

Qua nhiều thiên niên kỷ, hành động dạy đàn em một bài học đến hôm nay lại tiếp diễn, Trường Sa, Hoàng Sa đã bắt đầu nỗi sóng. Liệu lần này có những anh hùng như Bà Trưng đánh đuổi Tô Định, Bà Triệu chống chọi Quân Ngô, Trần Hưng Đạo đánh quân Nguyên, Nguyễn Trãi Bình Ngô Đại Cáo, Lý Thường Kiệt đánh quân nhà Tống, Ngô Quyền đánh Nam Hán, Lê Lợi đánh quân Minh, Trần Quốc Toản phá cường địch Báo Hoàng Ân. Và tuổi trẻ Việt Nam hôm nay thế nào ! tự hào dân tộc chúng ta đâu, chẳng nhẽ đất nước chúng ta không còn hào kiệt chỉ còn bọn CS buôn dân bán nước?.

Lịch sử còn đó, giang sơn còn đó, giòng giống rồng tiên còn đó, chúng ta là một. Hành động và tham vọng Trung Quốc quá rõ ràng không thể xóa bỏ được, chúng ta không còn thời gian để chờ đợi những lời phỉnh dụ của chính quyền CS đi đêm với Trung Quốc cầu vinh. Chúng ta đã từng biết sự nhân nhượng đôi bên có thể mang đến không máu đổ, đầu rơi. Chiến tranh là một điều không ai muốn, nhưng bọn Trung Quốc có để yên cho chúng ta không? Hãy nhìn lại lịch sử, nếu chúng ta không bị bọn Tàu đô hộ hàng ngàn năm thì đất nước chúng ta bây giờ ra sao? Với khoảng thời gian đó chúng ta kiến tạo đất nước thì thử hỏi Việt Nam có thua Quốc Gia nào trên thế giới không!? .

Hôm nay lịch sử lại tái diễn và sẽ còn tái diễn, Trung Quốc sẽ chiếm đoạt lãnh thổ chúng ta vì nguồn tài nguyên dầu hỏa phong phú và vì sự ghen tức phát triển nhanh chóng về kinh tế hiện nay của Việt Nam.

Lãnh đạo Trung Quốc luôn nhìn Việt Nam dưới con mắt là kẻ côn đồ, vô ơn bạc nghĩa, còn Việt Nam cũng nhìn người Trung Quốc là những kẻ hiếu chiến và ngạo mạn. Sức mạnh quân đội và kinh tế là cán cân quân bình cho những Quốc Gia trong mọi đối tác, mọi thời gian. Hành sử trên phương diện ngoại giao, tuy châm nhưng ôn hòa, nhưng dùng sức mạnh và bạo lực chỉ mang đến chiến tranh.

Trở lại năm 1946 tức là 1,700 năm sau thời Bà Triệu tuyên bố người Việt Nam yêu nước chống ngoại bang. Thời Hồ Chí Minh cũng có lần cảnh báo Việt Minh không nên kêu gọi lực lượng Trung Hoa trợ giúp để đánh đuổi người Pháp: Ông nghĩ rằng đó là trò chơi dại, việc làm ngớ ngẩn! Ông đã nhắc lại lịch sử để mọi người hiểu rằng, nếu người Trung Hoa ở đây họ sẽ không bao giờ ra đi. Lịch sử đã chứng minh điều đó qua bao thế kỷ.

Thời gian Trung Quốc đến đây, họ đã ở lại một ngàn năm. Còn Pháp hoặc những chủ nghĩa thực dân khác ho đã ra đi hoặc đã bỏ xác nơi đây. Những người da trắng không còn tồn tại ở Á Châu, nhưng người Trung Hoa vẫn còn và họ không bao giờ ra đi. Nếu anh hỏi tôi anh chọn ai. Tôi không ngần ngại trả lời rằng thà ăn “cứt” thằng Pháp chỉ năm năm thôi còn hơn phải ăn “cứt” thằng Tàu trọn đời trọn kiếp. Hồ Chí Minh đã từng nói những lời như thế nhưng chính ông lại là một nạn nhân. Hồ Chí Minh là người hâm mộ văn minh Trung Quốc, đã nói thông thạo tiếng Phổ Thông, đã viết chữ và làm thơ bằng tiếng Trung hoa. Là người gần gũi với lãnh tụ Mao Zedong (Mao Trạch Đông) và Zhou Enlai (Chu Ân Lai) Hồ Chí Minh chưa bao giờ có tư tưởng chống lại Trung Quốc trong suốt thời kỳ làm cách mạng mà còn ký những văn kiện tương nhượng và quyền hạng cho người Trung Quốc cùng với Phạm Văn Đồng.


Nhưng mỉa mai thay! Những điều mà các nhà lãnh đạo CSVN đã đi đêm với Trung Quốc từ bao lâu nay bây giờ trong thế cùng đành phải nhờ toàn dân đứng ra gánh chịu, giống như những lỗi lầm cha mẹ làm ra bây giờ bắt con cái hãy nhận lấy, hãy lên tiếng giùm tao. Tuổi trẻ Việt Nam ơi, hãy nhìn lại lịch sử, một sự thật không thể chối cãi, chúng ta phải thật bình tĩnh, tìm hiểu một cách thấu đáo trên phương diện lịch sử và chính trị trước khi đưa ra một nhận định riêng của chính mình. Chúng ta đừng để những luận điệu tuyên truyền dẫn dắt, đó chỉ là những con người thiếu bản lĩnh thôi.Hãy nhìn thần tượng của các bạn trước đây và ngay bây giờ. Các bạn đừng chối từ một sự thật, nếu các bạn cố lờ đi hay chối từ những sự thật, thì hóa ra các bạn chối từ quả đất đang quay vậy.

Trung Quốc vẫn là kẻ thù muôn đời của dân tộc Việt, các bạn hãy nhìn những thảm cảnh mà bọn Tàu Cộng đã gây ra hằng ngàn, ngàn năm nay, và mới đây đã giết hại ngư dân Việt Nam trên biển Đông, nhưng sau đó chính quyền Việt Nam đã làm gì với Trung Quốc?im lặng.

Hôm nay họ đã đến nhà, dao đã kề sát cổ, Các bạn phải làm chủ vận mệnh của đất nước, đừng nghe lời phỉnh dụ. Đất nước này là của bạn, là của con cái bạn, đừng để sau này con cháu nguyền rủa chúng ta không phải là một người Việt Nam anh hùng bất khuất.

Source: calitoday.com

Đăng trong Bài viết - VN | 3 phản hồi »

KHOA CỬ Ở VIỆT NAM – Công hay tội ?

Đăng bởi Hoàng Vinh on Tháng Năm 17, 2007

Chim Việt Cành Nam          [  Trở Về   ]


LỐI XƯA XE NGỰA
-
Nguyễn Thị Chân Quỳnh

KHOA CỬ Ở VIỆT NAM
Công hay tội ?

Xã hội ta xưa đại để chia ra làm hai loại người : quan và dân. Quan là người giúp vua điều khiển guồng máy chính trị để đem lại trật tự, an ninh cho dân. Quan trường do Nho phái xuất thân, cách kén người ra làm quan gọi là Khoa cử.

Tuy nhiên, làm quan không cứ phải theo cử nghiệp, ngoài Khoa cử ta còn có lệ Cống cử, hay Bảo cử, tức là các quan phải tiến cử những người có tài và có đức ra làm quan. Nhưng phương pháp này không cung cấp đủ người cho bộ máy hành chánh vì những người đứng ra Bảo cử, nếu lỡ tiến lầm người dở thì sẽ bị nghiêm trừng, do đó thường xuyên phải dùng Khoa cử để kén nhân tài.

Khoa cử xuất hiện từ bao giờ ?

Nguyễn Hiến Lê (Triết học Trung Quốc, Chiến Quốc Sách), Đào Duy Anh (Trung Quốc Sử Cương), Trần Văn Giáp (Khai Trí Tập San), Trần Quốc Vượng (Lịch Sử Việt Nam, I) đều chép Khoa cử xuất hiện ở Trung quốc từ nhà Tuỳ, nhà Đường (cuối thế kỷ thứ VI, đầu thế kỷ thứ VII), thời nhà Hán chỉ có lệ dân cử người hiền tài, song theo Chu Thiên (Bút Nghiên) và thứ nhất Trần Trọng Kim (Nho Giáo) thì Khoa cử bắt đầu có từ Hán Vũ Đế : ” Hán Vũ Đế (140 tr. TL) ra bài sách cho những người đã trúng tuyển, trong số đó có Đổng Trọng Thư “. Ta có thể hiểu là Khoa cử manh nha từ nhà Tây Hán, nhưng đến nhà Tuỳ, nhà Đường mới được khai thác và tổ chức có quy mô.

Cùng chịu ảnh hưởng của Trung Hoa, song Việt Nam, Cao Ly và Nhật Bản đặt ra Khoa cử từ lâu, Âu châu phải đợi đến thế kỷ thứ XIX mới dùng thi cử để kén người(1).

Thời Bắc thuộc (111 tr. TL-938) văn hoá cổ của ta – và có lẽ cả chữ Việt cổ – dần dần bị chính sách đồng hoá của Trung Hoa hủy diệt (2). Chữ Hán được nâng lên địa vị chính thức. Tuy vậy, người Nam muốn học cao và thi cấp trên vẫn phải sang tận Trung quốc. Năm 845, vua nhà Đường lại hạn chế số sĩ tử của ta sang thi khoa Tiến sĩ không được quá 8 người, thi khoa Minh kinh (giảng giải kinh sách) không được quá 10 người (3). Người hiển đạt thời ấy còn hiếm nhưng không phải là không có, chẳng hạn :

Đời Hán Minh Đế (58-75) có Trương Trọng, người Giao chỉ, du học Lục dương, rồi làm Thái thú Kim thành.

Đời Hán Linh Đế có Lý Tiến, người Giao Châu, khoảng 184-89 được làm Thứ sử Giao châu (như Thủ hiến), Sĩ Nhiếp lúc ấy làm Thái thú.

Đời Đường có Khương Thần Dực, người quận Cửu chân, làm Thứ sử châu Ái (Thanh Hoá). Hai người cháu du học kinh đô Tràng An, cùng đỗ Tiến sĩ : Khương Công Phục làm đến Bắc bộ Thị lang, anh là Khương Công Phụ làm đến Gián nghị Đại phu dưới Đường Đức Tôn và Đường Thuận Tôn (4).

Sang thời tự trị, sau khi chỉnh đốn việc nước, năm 1075 vua Lý Nhân Tôn mở khoa thi Tam trường (thi Đại khoa gồm ba kỳ) đầu tiên ở nước ta, mô phỏng theo Khoa cử của Trung quốc. Dần dần về sau, các triều Trần, Hồ, Lê, Mạc v.v…cải sửa thêm, đến đời Lê Thánh Tôn, thế kỷ XV, Khoa cử cực thịnh.

Từ Lê trung hưng trở đi, Khoa cử ngày càng xuống dốc, thiên về hư văn.

Những điểm khác biệt với Trung quốc

Tuy rập theo khuôn mẫu của Trung Hoa, song Khoa cử ở Việt nam cũng có những điểm dị biệt :

1) Trước hết, ngoài Bắc sử, ta phải học thêm Nam sử để biết rõ thêm những gì đã xẩy ra ở nước mình.

2) Tuy chữ Hán giữ địa vị chính thức ngay cả thời tự trị, nhưng ta đã dựa vào chữ Hán đặt ra một thứ chữ riêng để viết thêm những âm không có trong chữ Hán, gọi là chữ Nôm (có lẽ do chữ ” Nam ” đọc chệch đi). Chữ Nôm được Hồ Quý Ly là người đầu tiên đem ra dịch Kinh sách từ thế kỷ thứ XIV, mãi đến 1565, đời Mạc Mậu Hợp, mới dùng chữ Nôm lần đầu trong một khoa thi Tiến sĩ (đề mục kỳ đệ tứ là một bài phú Nôm), và phải đợi đến Quang Trung mới dùng chữ Nôm trong khoa thi Hương đầu tiên ở Nghệ An, Nguyễn Thiếp, tức La Sơn Phu Tử, làm Đề Điệu (thời ấy Chánh khảo là quan văn, gọi là Đề Điệu, sau này chức Đề Điệu trỏ vào một quan võ trông coi trật tự trong trường thi).

Nhờ biết sử dụng cả chữ Hán lẫn chữ Nôm, ta đặt ra loại chơi chữ rất độc đáo, người Tầu không thể có được, chẳng hạn trong câu :

Da trắng vỗ bì bạch

” bì ” = da, ” bạch ” = trắng, là chữ Hán, nhưng ” bì bạch ” lại là chữ Nôm khi mô tả tiếng vỗ trên da thịt. Câu này rất khó đối, mãi gần đây mới thấy ông Phan Ngọc đưa một vế đối chỉnh của một người bạn :

Rừng sâu mưa lâm thâm (5)

3) Trung quốc cho thi Tú tài riêng gọi là Phủ thí, năm sau thi Cử nhân gọi là Hương thí, nhưng ở Việt Nam, ít nhất cũng dưới triều Nguyễn, Cử nhân và Tú tài thi chung, người đỗ gọi là Cử nhân, người hỏng nhưng được xếp cao cho đỗ Tú tài, trung bình cứ lấy đỗ một Cử nhân thì lấy đỗ ba Tú tài. Tú tài được miễn dịch vụ cùng sưu thuế, nhưng không được phép thi Hội (6).

Ở Trung quốc danh từ ” Sinh đồ ” chỉ những người từ nhà học, nhà hiệu tại các châu, huyện cử ra, Cống cử hay Hương cống không do nhà học, nhà hiệu ra, mà do trúng tuyển, trong khi ở Việt Nam, thi Hương trúng ba trường thì gọi là Sinh đồ (ông Đồ), sau gọi là Tú tài, đỗ cả bốn trường thì gọi là Hương cống (ông Cống), sau gọi là Cử nhân.

4) Chu Xán, Thị lang bộ Lễ nhà Thanh, sang sứ Việt Nam năm 1688, về ghi trong Sử giao ký sự : ” Trường thi nước ấy không có nhà làm sẵn, sĩ tử phải ngồi trong lều phục xuống đất mà viết “ (7). Mãi tới 1843, vua Thiệu Trị mới cho xây trường thi bằng gạch đầu tiên ở Thừa Thiên. Trước đó, mỗi khoa thi người ta xây trường sơ sài nhà tranh vách nứa để sau khi thi phá bỏ lấy đất trồng trọt, nhưng bởi là đất công, không ai chăm bón, nên cây cằn cỗi, đứng xa thấy cả khu trường thi nổi bật lên một mầu vàng úa giữa đám cây cối xanh tươi xung quanh.

5) Theo Lê Quý Đôn, triều đình ta ” đối với những người thi đỗ đãi ngộ rất hậu, bổ dụng rất cao…so với việc đặt Khoa mục ở Trung quốc từ xưa đến nay chưa từng có “.

Công hay tội ?

Trong non một ngàn năm tự trị, Nho học và Khoa cử đã đào tạo được nhiều bậc khoa bảng ngoài sự nghiệp văn chương đều có công giúp nước, triều nào cũng có, xin tạm nêu ra :

Đời Trần có Chu Văn An ( ?-1370) đỗ Tiến sĩ, giữ chức tư nghiệp (dậy ở Quốc Tử Giám, tức trường Đại học của ta), dậy Thái tử và con các Đại thần, dâng sớ ” thất trảm ” đòi chém 7 kẻ gian thần, vua không nghe, ông treo mũ từ quan. Sau được thờ trong Văn Miếu, tức là nơi thờ phụng Khổng Tử, ông tổ đạo Nho.

Đời Hồ có Nguyễn Trãi (1380-1442) đỗ Thái Học Sinh (như Tiến sĩ). Sau khi giúp Lê Lợi đánh đuổi quân Minh, ông viết bài ” Bình Ngô Đại Cáo ” được coi là bản tuyên ngôn độc lập thứ hai của nước ta (8) và là tác giả nhiều thơ văn Hán Nôm còn lưu truyền.

Đời Nguyễn có Nguyễn Công Trứ (1778-1859) đỗ Giải nguyên, thi Hương (1819), lập nhiều công lớn và đặc biệt khai khẩn đất hoang miền duyên hải Nam Định và Ninh Bình, lập ra hai huyện Tiền Hải, Kim Sơn, và hai tổng Hoành Thu, Minh Nhất.

Nhờ có một tổ chức giáo dục và Khoa cử sớm hoàn bị, nước Việt Nam xưa được coi là một nước văn hiến. Thế mà chỉ mới bị bãi bỏ có hơn 70 năm, ngày nay phần đông chúng ta không mấy ai biết đến Khoa cử nữa. Hoặc chúng ta mỉm cười chế giễu, hoặc chúng ta lên án nghiêm khắc. Trong Việt Nam quốc sử khảo Phan Bội Châu viết : ” Trung quốc bỏ Khoa cử từ năm Canh Tý (1900)(9), Triều Tiên bỏ từ năm Giáp Ngọ (1894), đó là một việc nhơ nhớp duy chỉ nước ta còn có mà thôi ” và ” người ta mửa ra, mình lại nuốt vào “. Vì sao cha ông ta lại quá nặng lời như vậy ? Cóphải vì các vị quá phẫn uất trước thảm bại của nước nhà trong tay quân viễn chinh Pháp, mà giới lãnh đạo của ta lúc ấy do Khoa mục xuất thân, cho nên cha ông ta quy hết mọi tội cho Khoa cử đã đào tạo ra một lũ hủ Nho, mở miệng chỉ biết ” chi, hồ, dã, giả “, và một đám tham quan ô lại, chuyên bắt nạt dân đen, nhưng trước họng súng của Tây phương thì lại bó gối, cúi đầu, khiến cho lòngngười chán nản, hết tin tưởng ở giai cấp lãnh đạo mà họ vẫn phục tùng xưa nay, do đó chúng ta phủ nhận luôn cả những khía cạnh tích cực của Khoa cử ?

Đành rằng Khoa cử ngày một hủ bại, không thiết thực, chuộng hư văn, nhưng có thật lỗi ở Khoa cử hay ở người áp dụng nó ? Con dao nào dùng mãi cũng cùn, ta không biết mài lại cho nó sắc lại đổ lỗi cho dao xấu, đi mua dao khác thay thì suốt đời còn phải thay.

Phan Huy Chú, trong Lịch Triều Hiến Chương, viết : ” Xem việc thi cử hay hay dở thì biết nước thịnh hay suy “. Thời thịnh của Khoa cử là thời kẻ sĩ coi nó chỉ là phương tiện, tạo điều kiện cho mình thi thố tài năng giúp đời, đạo đức vẫn là chính, văn học chỉ là thứ yếu (” văn ” phải được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm cả chính trị, mưu lược quân sự, kinh tế, triết học v.v…chứ không phải chỉ học làm thơ xuông). Mục đích dậy ” văn ” là để đào tạo ra hạng người có kiến thức, có mưu trí, có tài ứng đối mẫn tiệp, biết cách cư xử khôn khéo trên chính trường ngoại giao. Đã đành ngày nay tin tưởng văn thơ có thể đuổi được giặc là chuyện buồn cười, song ta không nên quên rằng chính trị, ngoại giao thời xưa rất khác, văn học không phải là chuyện phù phiếm. Ngày nay chúng ta thường băn khoăn tự hỏi sao tổ tiên ta lại hồ đồ kén chọn người ra gánh vác việc nước bằng văn thơ ? Đọc lại những sự kiện lịch sử còn được lưu truyền thì thấy dù trong thờitự trị, ta vẫn bị Trung quốc đàn áp, nay đánh, mai doạ, tuỳ ta yếu hay mạnh. Họ lại thường dò xét xem ta có nhân tài hay không bằng cách đưa ra những câu đố hiểm hóc, những bài thơ oái oăm bắt giảng và họa lại, nếu ta hiểu và đối đáp trôi chảy, có khí phách, họ kết luận nên lui binh, cho hoà. Thí dụ thời nhà Mạc, quân Minh kéo sang định thôn tính nước ta. Tướng Mao Bá Ôn đóng quân ở cửa nam Quan, làm bài thơ ” Cái bèo ” đưa sang, ngụ ý khinh người Nam như cái bèo, phải một trận gió là tan. Sư Giáp Hải, đỗ Trạng nguyên, được cử ra làm thơ hoạ lại, hàm ý ta không sợ vì không thiếu nhân tài (dưới lớp bèo) ” nào cá, nào rồng trong ấy ẩn “, ta sẵn sàng ứng chiến. Bá Ôn đọc xong, rút quân về (10).

Thư sinh không thể làm tướng thì làm sứ. Trạng Bùng Phùng Khắc Hoan (1528-1613) đi sứ cũng nhờ văn tài làm vua quan Tầu kính phục, không những khiến họ lui binh, mà nước ta từ đó thoát khỏi phải cống hiến nước giếng Trọng Thuỷ để rửa ngọc trai, và người bằng vàng đúc (11).

Gần ta hơn, năm 1789, vua Quang Trung (1752-92), trước khi đại thắng quân Thanh đã tuyên bố : ” Chỉ trong vòng mười ngày nữa thế nào ta cũng quét sạch quân Thanh, nhưng nước Thanh lớn hơn ta gấp mười lần, bị thua tất lấy làm thẹn, chắc phải tìm cách rửa hờn. Nếu cứ binh lửa liên miên thật không phải hạnh phúc cho dân, lòng ta sao nỡ ? Vì vậy, sau khi thắng trận phải khéo ” dùng ngọn bút thay giáp binh ” (lấy lời lẽ khéo léo để giảng hoà, đẩy lui quân địch). Việc ấy phi Ngô Thời Nhậm (1746-1803) không ai làm nổi. Đợi mươi năm sau, ta đủ thì giờ gây nuôi, nước giầu, dân mạnh thì ta có sợ gì nó ? “ (12). Quang Trung thành công một phần nhờ tài biết dùng người.Quả nhiên sau này khi cầm đầu phái bộ ta sang Trung quốc, Ngô Thời Nhậm chứng tỏ Quang Trung không lầm người. Lúc tiến vào cửa Sứ quán, thấy hàng chữ đề ” An Nam di sứ công quán ” (Công quán của Sứ bộ xứ man di An Nam) Ngô Thời Nhậm không chịu vào, nói : ” Ta không phải đại diện cho một xứ man di, nên không vào Sứ quán ấy “. Quan nhà Thanh chữa rằng đối với Trung quốc thì tất cả đều là man di, mọi rợ hết, Ngô Thời Nhậm cười rằng : ” Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã (trâu tìm trâu nhập bọn, ngựa tìm ngựa nhập bọn). Phải chăng Đại quốc là mọi rợ khác ? “. Nhà Thanh đành phải sửa lại cái biển thành ” Nam quốc Sứ quan Công quán “, lúc đó Ngô Thời Nhậm mới chịu dẫn đoàn ngoại giao của ta bước vào (13).

Những lỗi lầm

Bất cứ một chế độ nào dù hay đến đâu cũng phải có ngày suy. Một trong những lỗi lầm lớn của Khoa cử là quá trọng đãi những người thi đỗ, vô hình trung tạo ra hạng người học chỉ vụ lấy đỗ, còn đạo nghĩa trong kinh sách thì không mấy quan tâm đến. Lê Quý Đôn đã tóm thâu cái học của họ trong câu ” thi thiên, phú bách, văn sách, năm mươi ” nghĩa là chỉ cần học thuộc lòng 1000 bài thơ, 100 bài phú và 50 bài văn sách là đủ vốn để dựa theo đó làm văn bài và thi đỗ !

Vì quá phục văn hoá Trung Hoa, vì khiêm tốn tin rằng chỉ bậc thánh mới xứng đáng viết sách dậy học và những gì đáng viết đều đã có trong kinh sách, cho nên ngoại trừ Nam sử và vài cuốn sách vỡ lòng như “Nhất Thiên Tự ” (sách 1000 chữ), ” Tam Thiên Tự ” (sách 3000 chữ) v.v…ông cha ta ít dám viết sách dậy học. Phần đông khi học lại chỉ vận dụng trí nhớ để học thuộc lòng, thiếu óc suy luận, không tìm hiểu nghĩa thâm thuý bên trong mà chỉ áp dụng cái vỏ bên ngoài.Chẳng hạn cho rằng đã làm con thì phải thực hiện tất cả mọi ý muốn của cha mẹ mới là có hiếu. Sự thực , ” Đức Thánh Khổng ” có dậy như thế không ? Cổ Học Tinh Hoa chép rằng Tăng Sâm, một trong những học trò giỏi của Khổng Tử, một hôm bừa cỏ lỡ tay làm đứt mất một ít rễ dưa, cha giận cầm gậy đánh. Tăng Sâm đau quá gục xuống một lúc mới hồi lại. Về nhà thưa với cha rằng : ” Lúc nẫy con có tội để đến nỗi cha phải đánh, làm đau tay cha, thực là con lỗi đạo “. Nói xong lui xuống, vừa gẩy đàn vừa hát, có ý để cha biết rằng mình không còn đau. Khổng Tử biết chuyện cấm cửa không cho Tăng Sâm vào. Sâm tự nghĩ mình vô tội, nhờ bạn đến hỏi vì cớ gì màthầy giận. Khổng Tử nói : ” Ngày trước, ông Thuấn phụng sự cha là Cổ Tẩu, lúc cha sai khiến gì thì ở luôn bên cạnh, lúc cha giận giữ thì lánh xa, lúc cha đánh bằng roi vọt thì cam chịu, đánh bằng gậy gộc thì chạy trốn. Thế cho nên ông Cổ Tẩu không mang tiếng bất từ. Nay Sâm liều mình chịu đòn đến nỗi ngất đi để chiều cơn giận của cha, nếu lỡ cha đánh chết thì có phải khiến cho cha mắc tội không ? Tội bất hiếu còn gì to hơn nữa ? “

Bàn đến chữ ” trung ” nhiều người tin rằng đạo làm tôi phải hết sức phục tùng vua, vua trái thì can hoặc treo mũ từ quan, vua giết thì cam chịu chứ không được chống đối. Cao Bá Quát chống lại triều đình lập tức mang tiếng ” giặc ” (giặc châu chấu). Khổng Tử tuy nói rằng vua thay trời trị vì dân, dân phải phục tùng, nhưng cũng nói vua có bổn phận của vua, tức là phải chăm lo hạnh phúc cho dân. Mỗi khi vua ở trái đạo thì Trời ra tai (lụt lội, đói kém) hoặc sinh ra những chuyện bất thường (nhật thực, nguyệt thực v.v…) để thức tỉnh. Lúc ấy vua phải ăn chay, sám hối, sửa đổi đường lối chính trị, phóng thích tù nhân, phát chẩn cho người nghèo để chuộc lỗi. Thuyết này tuy hoang đường nhưng có công dụng là kiềm chế được phần nào các ” đấng quân vương ” còn chút ít lương tâm. (Giở sử ra, ta thấy nhan nhản những vụ như sau : ” Năm 1345, tháng tư, tháng năm đại hạn. Ra lệnh ân xá cho tù nhân “). Mạnh Tử còn đi xa hơn Khổng Tử với câu : ” Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh “.

 Nho học chủ trương lập đức là chính, học đạo để thành người quân tử. Lúc đầu chữ ” quân tử ” trỏ vào đám quý tộc cầm quyền chính, sau Không Tử cho rằng chỉ những người có đức hạnh mới xứng đáng cầm quyền, nên người quân tử cũng trỏ vào những người có đức hạnh. Nhà Nho sở dĩ trọng sự thanh bạch cũng vì tin rằng cái nghèo luyện cho ta bớt kiêu căng, bớt xa xỉ, bớt lười biếng, tóm lại là gây nhân cách cho con người. Một ông quan nghèo chắc chắn là một ông quan thanh liêm, không tham nhũng cho nên mớinghèo.(Paul Doumer chép trong Hồi Ký rằng Phan Thanh Giản Làm quan to mà lúc chết vẫn chỉ có một túp nhà tranh đơn sơ). Tuy nhiên, trong thực tế, hạng này càng ngày càng hiếm, mà hạng vơ vét của dân làm giầu thì càng ngày càng nhiều, bởi đạo hạnh đã kém mà tục lệ khao vọng của ta lại nặng nề, khiến người thi đỗ mang công mắc nợ, đã thế nếp sống nhà quan thường xa hoa trong khi lương bổng ít (14) cho nên ” túng thì phải tính “. Ca dao ta có những câu chua chát :

Bộ Binh, Bộ Hộ, Bộ Hình
Ba Bộ đồng tình cướp gạo con tôi !

hay :

Con ơi, nhớ lấy câu này :
Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan !

đủ nói lên tình trạng đám quan lại khi đạo suy.

Nho giáo coi việc tu thân là cần, giữ sao cho tính tình lúc nào cũng điềm đạm, ôn hoà, cho nên nhà Nho khinh những người cậy sức khỏe lấn át kẻ khác. Nhà Nho chỉ ” đấu khẩu ” chứ không thèm ” đấu chân tay “, chê các võ quan là hạng ” vai u, bắp thịt, mồ hôi đầu “, ” có khỏe mà chẳng có khôn “, hoặc ” văn thời tứ phẩm đã sang, võ thời nhất phẩm còn mang gươm hầu “…Lâu dần thành thói quen ” trọng văn, khinh võ “. Việc dụng binh trong nước coi là bất thường, thời bình cho quân lính ở nhà cấy ruộng, hữu sự mới triệu ra, cho nên quân sĩ thiếu luyện tập.

Vì tin rằng con người quý ở chỗ tinh thần thảnh thơi, không bị cái ” hình dịch ” (đeo đuổi công danh, phú quý để phục vụ cho hình xác) nó làm cho quay cuồng, nên ta coi rẽ phú cường mà cầu an lạc, không chú trọng đến khoa học thực tiễn, không lo mở mang kinh tế cho nước giầu mạnh mà chỉ lo nhẹ thuế cho dân an vui là đủ. Từ ưa hoà bình thanh nhàn, ta biến dần thành tính cầu an, rồi nhẫn nhục, và sau cùng đi đến chỗ hèn yếu. Khi va chạm với súng ống tối tân của Tây, thảm bại là cái chắc. Tuy các quan ta không thiếu người có khí tiết, nhưng vì quá khinh ngành võ, lại thiếu vũ khí, thiếu kinh nghiệm chiến đấu nên tỏ rahoàn toàn bất lực trước sức mạnh của quân Pháp. Cái mớ kinh nghiệm trị nước bằng đức, đối ngoại bằng văn tài của tiền nhân để lại không còn thích hợp nữa nên Hoàng Diệu (1828-82), Nguyễn Tri Phương (1796-1867) v.v…chỉ đành đem cái chết để tỏ lòng mình.

Chính sánh ” bế quan tỏa cảng ” càng khiến ta thu hẹp tầm mắt, chỉ biết có văn minh Trung Hoa, ngoài ra không coi ai ra gì, tự kiêu, tự mãn cho mình là văn minh, không thèm học hỏi thêm. Nguyễn Tường Tộ viết : ” mỗi khi chê Tây nhỏ yếu, thì mọi người hân hoan, vui vẻ, còn nói sự thật thì lập tức bị thoá mạ, nghi là ăn hối lộ của Tây, vì thế ai cũng cắn răng ngậm miệng, không dám nói sự thật “ (15). Phái đoàn Phan Thanh Giản đi sứ Pháp về kể lại những chuyện mắt thấy tai nghe xứ người thì bị coi là nói chuyện hoang đường : ” làm gì có thứ nước chẩy từ dưới lên trên (nước phun trong công viên), và đèn gì lại chúc đầu xuống mà vẫn cháy được) ? “.

Chữ Quốc ngữ do các giáo sĩ Tây phương đặt ra, lại do một lớp thông phán thiếu đức độ sử dụng lúc đầu, cho nên một số người cho học chữ Quốc ngữ là ” vong bản “, thà bỏ thi cử khi Quốc ngữ trở nên bắt buộc, chứ không thèm học loại chữ ” con nòng nọc “. Hành động này tuy do lòng nhiệt thành ái quốc mà ra song là một hành động quá khích bởi chữ Hán cũng đâu phải chữ của ta ?

Cải cách

Ngày nay ta chê Khoa cử ” dùng thơ phú để kén nhân tài ” có hơi oan cho Khoa cử . Thực ra thi Hương cũng như thi Hội bao giờ cũng có một kỳ thi văn sách (có chỗ chép là vấn sách) gồm hai phần :

Cổ văn hỏi về chính sự và sử Trung quốc.

Kim văn hỏi về chính sự hiện tại của nước nhà.

Thí dụ : Năm 1868, đầu bài Kim văn thi Hội là : ” Quân xâm lăng (Pháp) hiện nay càng ngày càng gây hấn, đồn luỹ dựng lên khắp nơi, vậy nên đánh hay nên hoà (16).

Ngô Thì Sĩ trong bài tự trướng mừng Lê Quý Đôn đỗ Bảng nhãn cũng viết : ” Thi văn sách, chuyện được mất xưa nay, điều hay điều dở của chính sự, chỗ cao thấp của nhân tài, sự khoan nghiêm của pháp lệnh, điều nào ông cũng lần lượt trình bầy rõ ràøng, rành mạch, tuyệt vời, tỏ ra hiểu sâu kinh, rộng sử, bác cổ thông kim “(17).

Có người trách Phan Thanh Giản nhường ba tỉnh An Giang, Hà Tiên, Vĩnh Long cho Pháp năm 1867, dù chết cũng không đủ chuộc tội. Nhưng đứng trước hoả lực tối tân của Pháp, mưu lược hay đến đâu mà không có vũ khí tốt đi kèm cũng khó mà thắng huống chi lại là mưu lược chỉ thích hợp cho một đường lối hành quân cổ xưa và một nền tâm lý khác hẳn. Thử đem những người tốt nghiệp trường Khoa học Chính trị của Pháp chẳng hạn, bảo họ cầm quân xuất trận xem họ có lúng túng hay không ? Nếu họ cũng giỏi như những người tốt nghiệp trường võ bị Saint Cyr thì chẳng hoá ra học Saint Cyr là thừa ư ? Phan Thanh Giản tuẫn tiết tỏ ra không tham sinh, uý tử, nhường ba tỉnh cho Pháp tất nhiên không phải vì tư lợi mà muốn tránh cho dân khỏi chết thêm trong một cuộc chiến tuyệt vọng.

Giáo dục của ta không phải chỉ dậy toàn ngâm thơ, vịnh nguyệt, nhưng đối với thời nay quả có thiếu phần thực dụng, cần phải canh cải. Song không phải mãi sau khi đụng chạm với Tây phương ông cha ta mới tỉnh ngộ. Ngay từ cuối thế kỷ XIV, Hồ Quý Ly đã sáng suốt muốn ly khai ảnh hưởng Trung quốc bằng cách nâng cao địa vị chữ Nôm lên. Năm 1393, Quý Ly soạn sách Minh Đạo bằng chữ Nôm bàn về các nhân vật và kinh điển đạo Nho, chê các danh Nho đời Đường, đời Tống chỉ biết chắp nhặt văn chương, học rộng mà viễn vông. Sách dâng lên Thượng Hoàng Nghệ Tông khen, nhưng bị phe bảo thủ chỉ trích trong đó có vài học quan ở Quốc Tử Giám. Năm 1395, Quý Ly dịch thiên ” Vô Dật ” trong Kinh Thư ra dậy vua ; 1396 làm sách Thi Nghĩa bằng Nôm (giảng nghĩa Kinh Thi) cho nữ quan dậy các hậu phi và cung nhân (18). Những cố gắng cải cách của Quý Ly không thu lượm được mấy kết quả vì nhà Hồ mất sớm, sách vở viết ra lại bị quân Minh đốt sạch.

Gần ta hơn có Lê Quý Đôn cũng muốn cải tổ Khoa cử và văn học. Song ngay lớp sĩ phu thời đó cũng chưa mấy ai thấy rõ tầm quan trọng của các đề nghị cải cách. Ngược lại, lợi dụng danh nghĩa cải cách, tự do, một Thí sinh đùa bỡn viết ngay vào quyển thi :

May sinh gập thời bình,
Thần xin lấy ba vợ(19).

Đầu thế kỷ XIX, Cao Bá Quát (1808-54/55) khi đi sứ Tân Gia Ba có dịp mở rộng tầm mắt, đã choáng người trước ” Tầu thủy Hồng mao “, làm ngay một bài thi ca tụng, rồi tự phê phán : ” Đáng phàn nàn cho ta bấy lâu chỉ lo đóng cửa gọt rũa câu văn, lải nhải từng câu từng chữ có khác nào con sâu đo muốn muốn đo cả Trời Đất ? “ (20).

Chính vua Minh Mệnh cũng nhận xét : ” Văn cử nghiệp chỉ câu nệ những cái hủ sáo…học như thế trách nào mà nhân tài chẳng mỗi ngày một kém đi ? “

Một số người cho rằng Khoa cử bị bãi bỏ là do người Pháp cưỡng ép, thực ra giới trí thức của ta lúc ấy nhao nhao đòi cải tổ giáo dục và Khoa cử : Nguyễn Tường Tộ (1830-71), Phạm Phú Thứ (1820-81), Phan Bội Châu (1867-1940), Trần Quý Cáp (1870-1908) vv đều xin cải sửa, đặc biệt có Trần Bích San (1840-78) đỗ tới Tam Nguyên cũng xin bãi Khoa cử. Phan Chu Trinh xuất thân Nho học, đỗ Tiến sĩ, mà lên án Hán học rất nặng lời : ” Bất phế Hán tự, bất túc dĩ cứu Nam quốc ! ” (không bỏ chữ Hán thì không cứu được nước Nam). Phương Sơn sửa lại : ” Bất chấn Hán học, bất túc dĩ cứu Nam quốc ” (không chấn hưng Hán học thì không cứu được nước Nam). Khoa cử hủ bại, chúng tôi đồng ý về điều ấy, còn Hán học đã đào tạo ra biết bao anh hùng, liệt sĩ thì sao ta lại phế bỏ đi ? “ (21).

Huỳnh Thúc Kháng (1876-1948) tuy kết tội Khoa cử, nhưng công nhâïn phần lớn lỗi ở người học đạo không đến nơi : ” Mình nhận lối học Khoa cử cùng lối học Tống Nho làm lối học Khổng, Mạnh, chính là chỗ hư, chỗ hở của người Tầu mà mình bắt chước “. Rõ ràng Huỳnh Thúc Kháng chỉ phê bình lối học ” tầm chương, trích cú ” chứ không nói trùm lấp cả lối kén người bằng thi cử, và chính ông đã ca tụng cái học cùng Khoa cử đời Trần, nhìn nhận nó gần chánh đạo. Lại cũng chính ông nghiêm khắc lên án thái độ của một số người theo Tân học : ” Chẳng qua ngày trước nói Khổng, Mạnh thì ngày nay thay vào Hi lạp, La mã, Mạnh đức thư cưu (Montesquieu), Lư thoa (Rousseau), đổi cái ” chi, hồ, dã, giả ” bước sang ” a, b, c, d “. Phan Chu Trinh còn gay gắt hơn : ” Ngày trước học chữ Hán thì làm hủ Nho, ngày nay học Tây thì làm hủ Âu “ (22).Thếlà thế nào ? Khoa cử đã bị bãi bỏ, chương trình cải cách đã được áp dụng, tại sao hai vị còn chưa vừa lòng ? – Ấy là vì cả hai đều nhận ra cái cái óc học để làm quan của ta vẫn còn, và cái óc ấy không hẳn là ” độc quyền ” của Hán học và Khoa cử.. Người ta thích làm quan để được giàu sang, trọng vọng. Xưa kia các bà, các cô có phải chỉ tham ” cái bút, cái nghiên ” xuông đâu ? Tham là tham một bước lên quan khi ” anh Đồ ” thi đỗ đấy chứ. Bởi thế khi Khoa cử tàn, các cô bèn ” xếp bút nghiên ” lại, không phải để ” lên đường tranh đấu ” mà là để tuyên bố ” Phi Cao đẳng bất thành phu phụ ! “

Ta chê Khoa cử, thực ra là chê cái học thiếu thực dụng, chứ còn cách dùng thi cử để kén nhân tài thì ngày nay trên khắp thế giới vẫn phải dùng đến. Khoa cử tương đối công bằng và bình đẳng, ít ra cũng hơn chế độ ” con vua thì lại làm vua “. Trong Hồi ký, Paul Doumer nhắc đến trường hợp một người con nông dân được lấy đỗ trong khi một người khác con quan lại bị đánh trượt mặc dầu văn tài hai người suýt soát nhau, để chứng tỏ các quan trường không tư vị. Song Khoa cử chỉ tương đối công bằng, con nhà ” xướng ca vô loài ” chẳng hạn, không được đi thi. Đào Duy Từ thi Hội đỗ, chỉ vì cha là người cầm đầu đội nữ nhạc trong cung vua Lê mà bị đánh hỏng, ai dám bảo là công bằng ? Phụ nữ cũng không được phép bén mảng đến trường thi, thậm chí dự một buổi bình văn ở nhà Giám (Quốc Tử Giám) cũng bị đuổi ra (23) thì bình đẳng ở chỗ nào ?

Phong trào duy tân ngày một lan rộng, nhất là từ khi ta thấy Nhật trở nên hùng cường nhờ Âu hoá, thắng được quân đội Nga và Trung Hoa vào cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX.

*
* *

Ngày nay chúng ta bỏ hẳn Hán học, theo Tây học, song một số không ít đã nhận thấy đời sống Âu, Mỹ tuy đầy đủ tiện nghi, nhưng con người quay cuồng, phờ phạc vì công ăn việc làm, lúc nào cũng vội vã, sắp đặt thì giờ từng giây, từng phút, đến nỗi không biết gì đến sinh thú nữa. Đời sống vội vã, căng thẳng ấy chưa hẳn đã thích hợp với tâm hồn của ta. Mặt khác, cái học Đông phương quá chuộng thanh nhàn, coi rẻ đời sống vật chất nên người dân phải vất vả, lầm than, thiếu đủ thứ cũng không tạo được sự an lạc cho họ. Cho nên cuối cùng tất phải đi đến một giải pháp dung hoà.

Song dù giầu hay nghèo, dù sang hay hèn, phần đông dân ta đều trọng tình cảm và đạo đức, khiến người ngoại quốc phải kính trọng. Đấy là do ảnh hưởng một phần không nhỏ của Nho giáo đã thấm đến cốt tủy của ta, kể cả những người không trực tiếp học đạo. Nho học đã tạo ra một từng lớp sĩ phu có khí tiết, đức độ, rất có uy tín trong dân gian. Ngày nay phái Tân học tuy không biết đạo Nho nhưng vẫn được thừa hưởng cái uy tín của từng lớp trí thức trước để lại. Mà Nho học bành trướng được một phần là nhờ Khoa cử (Khoa cử kén người hỏi về đạo Nho vì đạo Nho dậy cách trị quốc, an dân, lại tôn quân quyền nên được vua chúa dùng làm quốc giáo) cho nên Khoa cử không hẳn chỉ có tội đối với quốc dân ta.

Châtenay-Malabry, tháng 8, 1989.
Tài liệu rút trong Khoa cử ở Việt N am (Chưa in).
(Làng Văn, số 70, than&g 6, 1990).

Chú thích

(1) - Connaissance du Việt-Nam, tr. 84

(2) – Văn hoá Đông sơn được coi là văn hoá cổ của ta, cực thịnh vào cuối thời các vua Hùng.
Chữ Việt cổ nếu có cũng không còn chứng tích.

(3)An-nam chí lược, tr. 251

(4)An-nam chí lược, tr. 232-4

Theo Đào Duy Anh (Đất nước Việt-Nam qua các đời, tr. 69) hiện còn đền thờ Khương Công Phụ tại quê hương là làng Cẩm Chướng, huyện Yên Định (Thanh Hoá).

(5)Đoàn Kết số 411

(6)Ta thường dịch Tú tài thời xưa cũng là ” bachelier “, có lẽ chữ ” sous-admissible ” thích hợp hơn vì Tú tài xưa là những người thi Hương không đỗ, nhưng có chân trên bảng dự khuyết.

(7)Kiến văn tiểu lục, tr. 113

(8) – Bài thơ ” Nam quốc sơn hà, Nam đế cư ” của Lý Thường Kiệt được coi là bản thứ nhất.

(9) – Trung quốc bỏ Khoa cử năm 1905 chứ không phải năm 1900.

(10)  & (11) -   ” Nói về truyện các cụ ta đi sứ Tầu “, Nam Phong số 92

Có lẽ Nguyễn Hữu Tiến đã lầm Trạng nguyên Giáp Hải đời Mạc với sư Giác Hải đời Lý Nhân Tông (Thiền Uyển Tập Anh ) ?

Bài thơ ” Cái bèo ” có thể cũng chỉ là một giai thoại bịa đặt.

Cương Mục XIV, 28-32 lại chép Mạc Đăng Dung, không đẩy lui được Mao Bá Ôn, xin hàng.

Lịch triều hiến chương chép Giáp Hải đỗ Đình nguyên khoa 1538.

Công dư tiệp ký -tập I, tr. 100 nói Giáp Hải đỗ Trạng nguyên khoa 1553, nhưng có con, không phải sư ; cũng không nói đến bài thơ ” Cái bèo “.

- tập II, tr. 118, cho biết Mao Bá Ôn rút quân sau khi xem bài biểu xin hàng của Mặc Đăng Dung do Trạng nguyên Ngô Miễn Thiệu hay Trạng nguyên Trần Tất Văn viết.

(12)Ngô gia văn phái, tr. 29

Hoàng Lê nhất thống chí, tr. 306

(13)Nghìn xưa văn hiến, tr. 306

Phủ biên tạp lục, tr. 19-20, lại chép là Lê Quý Đôn chứ không phải Ngô Thì Nhậm.

(14)Nguyễn Trường Tộ, tr. 74

(15)Nguyễn Trường Tộ, tr. 304

(16)Giai thoại làng Nho toàn tập, tr. 534

(17)Ngô Thì Sĩ, tr. 212

(18)Biên niên lịch sử Cổ Trung đại, tr. 230-3

(19)Lê Quý Đôn, tr. 221 và 185

Câu này còn được chép trong Công dư tập ký tập

III, tr. 86, viết khoảng 1755 tức là từ trước khi Lê Quý Đôn làm chủ khảo (1772).

Vũ trung tuỳ bút thì nói Trần Tiến chép câu này trong bài thi ứng chế (tr. 166).

(20) -  Thơ Cao Bá Quát, tr. 22

(21)Đông kinh nghĩa thục, tr. 81

(22)Khổng học đăng, tr. 774-86

(23)Vũ trung tuỳ bút, tr. 96-8

Sách tham khảo

Bùi Hạnh Cẩn, Lê Quý Dôn ; Hà Nội, 1985.

Đào Duy Anh, Đất nước Việt Nam qua các đời. Hà Nội : KHXH, 1965. Paris : Đông Nam Á tái bản.

P. Huard & M. Durand, Connaissance du Việt-Nam, Paris, 1954.

Lãng Nhân, Giai thoại làng Nho toàn tập. Saigon : Nam chi tùng thư, 1966.

Lê Quý Đôn, Kiến văn tiểu lục. Hà Nội : Sử học, 1962. Dịch giả : Phạm Trọng Điềm.

Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục. Hà Nội : KHXH, 1977.

Lê Tắc, An-nam chí lược. Viện Đại học Huế, 1961.

Ngô Thì Chí, Hoàng Lê nhất thống chí. Bản dịch Ngô Tất Tố. Phong trào văn hoá tái bản, 1969.

Nguyễn Hiến Lê, Đông kinh nghĩa thục. Saigon, 1956. Xuân Thu tái bản ở Mỹ.

Nguyễn Hữu Tiến, ” Nói về truyện các cụ ta đi sứ Tầu “, Nam Phong số 92.

Phạm Đình Hổ, Vũ trung tuỳ bút. Hà Nội : Văn học, 1972. Paris : Đông Nam Á tái bản, 1985. Dịch giả : Nguyễn Hữu Tiến.

Phan Bội Châu, Khổng học đăng. Xuân thu tái bản ở Mỹ.

Phan Ngọc, ” Chơi chữ trong câu đối Việt Nam “, Đoàn Kết số 411.

Trần Lê Văn, Ngọc Liêu, Chương Thâu, Nguyễn Tài Thu, Một số tác giả và tác phẩm trong Ngô gia văn phái. Hà Sơn Bình, 1960.

Trần Quốc Vượng, Giang Hà Vị, Nghìn xưa văn hiến, tập IV, Hà Nội, 1984.

Trần Thị Băng Thanh, Ngô Thì Sĩ, Hà Nội, 1987.

Trương Bá Cần, Nguyễn Trường Tộ, con người và di thảo. Hồ Chí Minh, 1988.

Vũ Phương Đề, Công dư tiệp ký. Saigon : Bộ Quốc gia Giáo dục, 1962. Dịch giả : Nguyễn Đình Diệm.

Thơ Cao Bá Quát. Hà Nội : Văn học, 1984.

Biên niên lịch sử Cổ Trung Đại. Hà Nội : KHXH, 1987.

Khâm định Việt sử thông giám cương mục. Hà Nội : Văn Sử Địa. Tổ biên dịch : Phạm Trọng Điềm, Hoa Bằng, Trần Văn Giáp.
      -

 
TỰAChương I – KHOA CỬ Ở VIỆT NAM Công hay tội ?  : 
Khoa cử xuất hiện từ bao giờ ?  -  Những điểm khác biệt với Trung quốc  – Công hay tội ?  -    Những lỗi lầm  - 

Chương II – PHÉP THI NGHIÊM MẬT  :
I – THÍ SINH VÀ NHỮNG ĐIỀU KIỆN DỰ THI HƯƠNG THỜI NHÀ NGUYỄN  : 
a ) Thi Hạch  -    b ) Nộp quyển  -    c ) Ngày thi : khám xét  -    d ) Trường quy
II – KHẢO QUAN  :    A. Ban Giám khảo  -    B. Ban Giám sát  -    C. 
1/ Chọn lựa Khảo quan  -    2/ Lễ tiến trường của các Khảo quan  – 3/ Trường thi  -    4/ Quyển thi  -    5/ Chấm thi
III – NHỮNG VỤ ÁN NỔI TIẾNG

Chương III – AI LÀ CHỦ KHẢO TRƯỜNG HÀ NAM KHOA ĐINH DẬU (1907) : Đồng Sĩ Vịnh hay Cao Xuân Dục
I – Trường Hà Nam khác Trường Nam Định ở điểm nào ?
II – Khoa Đinh Dậu có gì đặc biệt ?
III – Cao Xuân Dục
IV – Ai là chủ khảo Trường Hà Nam khoa Đinh Dậu ?

Chương IV – TÚ XƯƠNG CÓ ĐI THI CHỮ QUỐC NGỮ HAY KHÔNG ?
I – Khoa cử thời cái cách : Địa vị chữ quốc ngữ và chữ Pháp hồi đầu thế kỷ XX
II – Tú Xương có thi chữ quốc ngữ hay không ?
III – Ai cứng đầu ? 

Chương V – NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU RA HUẾ CHUẨN BỊ THI HƯƠNG HAY THI HỘI KHOA KỶ DẬU (1849)  ?
I – Nguyễn Đình Chiểu ra Huế thi Hương hay thi Hội
II – Những đặc ân của triều Nguyễn dành cho nho sĩ miền Nam
III – Bàn thêm về những cấm lệ ” kỳ quặc ” của khoa cử

Chương VI – NGUYỄN THỊ DU, VỊ NỮ TRẠNG NGUYÊN ĐỘC NHẤT CỦA TA SINH NĂM NÀO ?
I – Thân thế
II – Sự nghiệp văn chương
III – Hai bài tính đố : Bà sinh năm nào và lấy chúa Mạc nào ?

Chương VII – KHOA CỬ THỜI HẬU LÊ DƯỚI MẮT SAMUEL BARON

Chương VIII – CÔNG CHÚA ĐỜI TRẦN
I – Mỹ Nhân Kế
II – Loạn luân
III – Cái vạ ngoại thích
IV- Vài nét sinh hoạt của các công chúa đời Trần

Chương IX – HOẠN QUAN 
I – Những hoạn quan danh tiếng ở nước ta 
II – Chức vụ và phẩm phục 
III – Đời sống 

Chương X – NỬA DÒNG MÁU VIỆT
I. Samuel BARON
II. Michel Đức CHAIGNEAU (1803-1894)
III. HỒ Dzếnh (1916-1991)
IV. Kim LEFEVRE (1937 ? – )

./.

Đăng trong Bài viết - VN | Leave a Comment »

Sơ lược lịch sử thư pháp qua các thời kỳ

Đăng bởi Hoàng Vinh on Tháng Năm 17, 2007

Thư pháp 書 法 là nghệ thuật viết chữ của người Trung Quốc với các công cụ gọi là văn phòng tứ bảo 文 房 四 寶(bút, nghiên, giấy, mực). Người Trung Quốc thường nói: «Học tập thư pháp khả dĩ tu thân, dưỡng tánh, đào dã tâm tình.» 學習書法可以修身養性陶冶心情. Với quan niệm này, thư pháp cũng là Đạo (Thư pháp giả, Đạo dã) 書 法者道也. Người Nhật từ thuở tiếp thu văn hóa Hán đã nhận ra giá trị cao nhã của thư pháp nên gọi tên là thư đạo 書道 (shōdō). Không những thế, sự nghiên tập thư pháp từ đời Hán đến nay đã trở thành môn học hẳn hoi với đầy đủ cơ sở lý luận gọi là thư học 書學

Nói đến thư pháp là nói đến khổ luyện. Người Trung Quốc thường bảo: «Học thư vô nhật bất lâm trì.» 學書無日不臨池 (Học thư pháp chẳng ngày nào mà không «vào ao»). Thuật ngữ lâm trì ý nói công phu khổ luyện thư pháp. Thư gia Trương Chi 張芝 đời Đông Hán mỗi ngày luyện viết xong thì rửa bút ở ao, lâu ngày nước đen như mực (Lâm trì học thư, trì thủy tận mặc) 臨池學書池水盡墨. Thuật ngữ lâm trì bắt nguồn từ đó. Thời của Trương Chi, giấy chưa phổ biến, luyện chữ chỉ có thể viết trên tơ lụa. Ông tận dụng tất cả vải lụa trong nhà, khi không thể viết thêm được nữa thì đem nhuộm và may y phục. Giới nghiên cứu Trung Quốc tổng kết rằng các đại thư gia thường phải mất vài chục năm lâm trì mới thành danh. Vì bái phục công phu lâm trì của Trương Chi (đời Hán) nên Vương Hi Chi 王羲之(đời Tấn) đã bỏ ra 15 năm luyện chữ, bắt đầu từ chữ vĩnh 永 (mãi mãi). Chữ vĩnh bao quát tám nét cơ bản của chữ Hán (gọi là vĩnh tự bát pháp 永字八法 ) và là bài tập nền tảng cho người mới học thư pháp. Nhưng vĩnh tự bát pháp chính thức được nghiên cứu có qui củ kể từ nhà sư Thích Trí Vĩnh 釋智永 (tục gọi Vĩnh thiền sư) đời Tuỳ. Vị cháu bảy đời này của Vương Hi Chi cũng là một tấm gương khổ luyện thư pháp. Ông tu ở chùa Vĩnh Hân 永欣, huyện Ngô Hưng 吳興. Ông lên lầu chùa rồi không xuống, ở đó 40 năm khổ luyện thư pháp (Đăng lâu bất hạ tứ thập niên 登樓不下四十年). Bút cùn (thoái bút 退筆) vất thành gò. Khi ông thành danh, người người đến xin chữ khiến ngạch cửa bị dẫm nát, phải lấy sắt lá bao lại (gọi là thiết môn hạn 鐵門限). Nhà sư Hoài Tố 懷素 đời Đường thuở hoa niên nhà nghèo không tiền mua giấy, chỉ khổ luyện trên lá chuối mà thành danh thảo thánh 草聖. Vương Hiến Chi 王獻之 thuở nhỏ luyện chữ đã gánh nước đổ đầy 18 chum để làm nước mài mực. Nhờ thế mà thành danh. Hai cha con Vương Hi Chi và Vương Hiến Chi được đời xưng tụng là Thảo thánh nhị Vương 草聖二王. Chữ thảo của họ trở thành khuôn mẫu cho thế nhân nghiên tập từ đời Tấn đến nay.

Những người say đắm thư pháp nhiều vô kể. Mỗi một đời đều có một số đại thư gia, từ vua chúa đến sĩ dân. Đường Thái Tông 唐太宗 (Lý Thế Dân 李世民) lúc rỗi lấy ngón tay viết chữ trong không khí (trừu không luyện tự 抽空練字); nửa đêm tốc dậy thắp đuốc luyện Lan Đình 蘭亭 (mặc tích của Vương Hi Chi).

Lương Vũ Đế 梁武帝 cực kỳ hâm mộ mặc tích của họ Vương, cho người đi sưu tầm tất cả tác phẩm của Vương Hi Chi, truyền lệnh cho mọi người trong cung phủ phải lấy các thư thể của họ Vương làm chuẩn, rồi sai Chu Hưng Tự 周興嗣 soạn Thiên Tự Văn 千字文 và cho người mô phỏng bốn thư thể chân, thảo, lệ, triện của họ Vương mà chép Thiên Tự Văn để dạy chữ Hán và thư pháp cho các con em trong cung phủ. Chu Hưng Tự là văn quan kỳ tài, chỉ dùng 1000 chữ Hán cơ bản viết thành từng câu bốn chữ (không chữ nào lập lại) mà giảng giải được mọi lý lẽ trên đời. Tác phẩm nổi tiếng này không chỉ là sách giáo khoa khải mông (dạy trẻ) từ đời Lương đến đời Thanh mà còn là bí kíp rèn luyện thư pháp cực kỳ quan trọng cho đến ngày nay. Trí Vĩnh thiền sư sao chép 800 bản Thiên Tự Văn theo chữ hành và chữ thảo phổ biến cho các tự viện. Các thư gia đều có bản Thiên Tự Văn với thư thể của riêng mình, như Âu Dương Tuân 歐陽詢 đời Đường, Triệu Mạnh Phủ 趙孟頫 đời Nguyên, v.v… cho đến các thư pháp gia Trung Quốc hiện đạiLịch sử phát triển của thư pháp xuôi theo lịch sử phát triển của chữ Hán. Các thư gia Trung Quốc nhiều vô kể, mỗi người chuyên trị một thư thể, có người vừa là thư gia vừa là họa gia; nếu liệt kê đầy đủ phải là một danh sách dài dằng dặc. Ta chỉ có thể kể những đại thư gia tiêu biểu nhất của từng đời.

Bắt đầu từ đời Tần Thủy Hoàng Đế 秦始皇帝 có thừa tướng Lý Tư 李斯 (người thống nhất văn tự Trung Quốc, được thư pháp sử 書法史 kể là đệ nhất thư pháp gia), Triệu Cao 趙高 , Hồ Mẫu Kính 胡母敬 ,.

Đời Hán có các thư gia Sử Du 史游 , Tào Hỉ 曹喜, Thôi Viện 崔瑗 , Trương Chi 張芝, Sái Ung 蔡邕, Lương Hộc 梁鵠, Lưu Đức Thăng 劉德升,…

Đời Tam Quốc và Tây Tấn có Hàm Đan Thuần 邯鄲淳, Vỹ Đản 偉誕, Chung Diêu 鐘繇, Hoàng Tượng 皇象, Vệ Ký 衛覬, Vệ Cẩn 衛瑾 (con Vệ Ký), anh em Vệ Hằng 衛恆- Vệ Tuyên 衛宣 – Vệ Đình 衛庭 (các con của Vệ Cẩn), Tố Tĩnh 素靖 (cháu gọi Trương Chi là cậu), Lục Cơ 陸機,…

Đời Đông Tấn có gia đình Vương Hi Chi 王羲之 với các con Vương Hiến Chi 王獻之, Vương Tuần 王珣 , Vương Dân 王民

Đời Nam Bắc Triều có Bạc Thiệu Chi 薄紹之, Vương Tăng Kiền 王僧虔, Đào Hoằng Cảnh 陶弘景 (cũng là Đạo gia), Trịnh Đạo Chiêu 鄭道昭, Triệu Văn Thâm 趙文深, Vương Bao 王褒 , …

Đời Tùy và Đường là thời kỳ đỉnh thịnh của thư pháp với các thư gia Trí Vĩnh 智永 (thiền sư Thích Trí Vĩnh), Thích Trí Quả 釋智果, Đinh Đạo Hộ 丁道護, Âu Dương Tuân 歐陽詢, Ngu Thế Nam 虞世南, Chử Toại Lương 褚遂良, Lục Giản Chi 陸柬之, Lý Thế Dân 李世民 (Đường Thái Tông 唐太宗), Vũ Tắc Thiên 武則天 (vốn là tài nhân của Thái Tông, về sau bà lên ngôi xưng là Đại Thánh Hoàng Đế 大聖皇帝, thư pháp chuyên về hành thư), Tiết Tắc 薛稷, Tôn Kiền Lễ 孫虔禮, Kính Khách 敬客, Hạ Tri Chương 賀知章, Lý Ung 李邕, Trương Húc 張旭, Hàn Trạch Mộc 韓擇木, Trương Hoài Cẩn 張懷瑾, Nhan Chân Khanh 顏真卿, Hoài Tố 懷素, Từ Hạo 徐浩, Lý Dương Băng 李陽冰, Liễu Công Quyền 柳公權, Đỗ Mục 杜牧, Cao Nhàn 高閑, …

Đời Ngũ Đại có Dương Ngưng Thức 楊凝式, Từ Huyễn 徐鉉, …

Đời Tống có Lý Kiến Trung 李建中, Vương An Thạch 王安石, tứ gia Tô-Hoàng-Mễ-Sái (tức là Tô Thức 蘇軾, Hoàng Đình Kiên 黃庭堅, Mễ Phế [Phất] 米芾, Sái Tương 蔡襄), Tiết Thiệu Chương 薛紹彰, Triệu Cát 趙佶 (tức là vua Tống Huy Tông 宋徽宗, với thư thể đặc thù là sấu kim thể 瘦金體), Nhạc Phi 岳飛, Lục Du 陸游, Khương Quỳ 姜夔, Trương Tức Chi 張即之, Vương Đình Quân 王庭筠, …

Đời Nguyên có Triệu Mạnh Phủ 趙孟頫 (Tùng Tuyết Đạo Nhân 松雪道人), Tiên Vu Khu 鮮于樞, Khang Lý Quỳ Quỳ 康里夔夔 (gốc Mông Cổ), Thái Bất Hoa 泰不華, Nghê Tán 倪瓚, ..

Đời Minh có Tống Liêm 宋濂, Tống Toại 宋璲 (con Tống Liêm), Tống Khắc 宋克, Tống Quảng 宋廣, Du Hòa 俞和, Giải Tấn 解縉, Thẩm Độ 沈度, Trình Nam Vân 程南雲, Trần Hiến Chương 陳獻章, Thẩm Chu 沈周, Chúc Duẫn Minh 祝允明, Văn Trưng Minh 文徵明, Văn Bành 文彭 (con Văn Trưng Minh), Lý Đông Dương 李東陽, Vương Sủng 王寵, Trần Thuần 陳淳, Vương Trĩ Đăng 王稚登, Từ Vị 徐渭, Đổng Kỳ Xương 董其昌, Hình Đồng 邢侗, Trương Thụy Đồ 張瑞圖, Hoàng Đạo Chu 黃道周, Nghê Nguyên Lộ 倪元璐, …

Đời Thanh có Phó Sơn 傅山, Vương Đạc 王鐸, Kim Nông 金農, Trương Chiếu 張照, Trịnh Tiếp 鄭燮, Lưu Dung 劉墉, Vương Văn Trị 王文治, Vương Thời Mẫn 王時敏, Chu Đáp 朱耷 (Bát Đại Sơn Nhân 八大山人), Trịnh Phủ 鄭簠, Đát Trọng Quang 笪重光, Trần Diệc Hi 陳亦禧, Ông Phương Cương 翁方綱, Thiết Bảo 鐵保, Quế Phức 桂馥, Tiền Điếm 錢坫, Tiền Phong 錢灃, Đặng Thạch Như 鄧石如, Y Bỉnh Thụ 伊秉綬, Bao Thế Thần 包世臣, Hà Thiệu Cơ 何紹基, Triệu Chi Khiêm 趙之謙, Ngô Xương Thạc 吳昌碩, Lý Thụy Thanh 李瑞清, Ông Đồng Hòa 翁同龢, Trương Dụ Chiêu 張裕釗, Khang Hữu Vi 康有為, Tề Bạch Thạch 齊白石, Trịnh Bản Kiều 鄭板橋,…

Sưu tầm

Đăng trong Bài viết - VN | Leave a Comment »