Cụ Nguyễn Du có nói:
– Sầu đong càng lắc càng đầy
Ba Thu dồn lại một ngày dài ghê
Quả thật những ai có tâm sự phiền muộn, thì cảm thấy cuộc đời không có ý nghĩa, do vậy mà ngày tháng như dài ra thêm theo sự mong mỏi của chúng ta. Phiền muộn là cái mà không ai tha thiết mong đợi, nhưng trong cuộc sống hằng ngày lại không có một ai dám bảo đảm chúng ta là người không có những bất an trước những nỗi lo âu phiền muộn, giông tố bảo bùng của kiếp làm người. Cho nên tinh thần cầu nguyện, mong muốn có một cuộc sống thảnh thơi, không còn phiền muộn là điều mọi người ai cũng đều mong ước. Do vậy mà người ta thường cầu nguyện bằng nhiều cách, tùy thuộc vào niềm tin và nhận thức của mỗi cá nhân.
Nếu những ai chưa thấm nhuần giáo pháp, thì họ thường đi khấn vái ở am này đền nọ. Đối với người thấm nhuần Phật pháp thì không cho lối cầu nguyện ấy là thích đáng, bởi vì người Phật tử nghĩ rằng:
– Duy chỉ đem tâm thành kính, thanh tịnh, trang nghiêm trì tụng kinh chú trước ngôi Tam Bảo, và vâng lời Phật dạy làm những việc ích mình lợi người, bố thí phóng sanh để cầu cho thế giới hòa bình chúng sanh an lạc, thì sự cầu nguyện ấy mới đúng với Chánh pháp.
Sự an bình hạnh phúc hay phiền muộn lo âu trong con mỗi người chúng ta được thể hiện ở trên hai lãnh vực là thân và tâm.
Nói Về Thân:
– Khi thân bị bệnh, bị đói khát, rét mướt, tai nạn, tật nguyền, đó là nói đến đời sống của những con người bình thường. Còn đối với những người vì lý do nào đó mà bị bắt bớ tù tội thì thân thể bị tra tấn đánh đập .. v.v… Tất cả những trạng thái đó là những bất an, phiền muộn của thân.
Nói Về Tâm:
– Khi tâm sầu muộn, bi ai, âu lo, sợ sệt, ân hận hay uất hận, giận hờn, do vì các phiền não của tham, sân, si chi phối đó là những mối bất an của tâm.
Nhìn chung thì chúng ta thấy những an bình, hạnh phúc, hay lo âu phiền muộn tuy là nhiều hình dạng khác nhau, nhưng thường xảy ra trong hai hạng người:
a- Những Con Người Nghiêm Túc
– Những con người nghiêm túc là những con người hiểu đạo lý nhân quả, nghiệp báo, cho nên cách hành xử của hạng người nầy luôn luôn có chánh niệm cho nên họ sống rất là thảnh thơi, không phiền muộn.
b- Những Con Người Phóng Túng:
Ở đời cũng có những hạng người sống hời hợt, chỉ biết tìm cầu sự an lành ở thể chất qua sự đáp ứng cho những đòi hỏi như:
– Ăn ngon, mặc đẹp,
– Lắm của nhiều tiền,
– Mong cho tai qua nạn khỏi,
– Công thành danh toại, chứ ít khi nghĩ đến sự an lành cho tâm hồn, nên họ thường thản nhiên để cho tham tâm khởi, si tâm, kiêu căng, ngã mạn sanh khởi.
Kết quả họ là phải chuốc lấy nhiều phiền muộn, ray rứt ân hận đè nặng lên tâm thức hằng ngày, hằng giờ, từng phút, từng giây không bao giờ nguôi.
Trong mối tương quan tương duyên giữa thân và tâm quyện vào nhau thì những nỗi lo âu phiền muộn hoặc sự an lành của thân và tâm khó mà có thể diễn tả một cách tường tận. Hơn nữa, vấn đề cảm nhận còn tùy vào nhận thức và khả năng tu tập của mỗi người. Tuy nhiên một cách giản lược, thì sự lo âu phiền muộn hoặc thảnh thơi an lành được tác động trên hai lãnh vực là: Bên ngoài và chính tự trong thân chúng ta.
a- Bên Ngoài:
Những cái bất an đau khổ từ bên ngoài đưa đến, đó là sự bất an của hoàn cảnh, như bị tai nạn, bị đánh đập, thiên tai bảo lụt, nạn dân ách nước. Muốn tránh, chúng ta phải có những hành động thích ứng để đem lại an lành, chẳng hạn như:
– Nếu những lo âu phiền muộn do đói rét, nghèo khổ mà sanh ra thì chúng ta phải tìm công ăn việc làm, phải cần mẫn, làm việc có phương pháp để đem lại cơm no áo ấm. Khi thân nhuốm bệnh, ta phải điều trị, uống thuốc, biết đi dưỡng và đề phòng.
b- Bên Trong:
Nếu những sự lo âu phiền muộn chính tự trong chúng ta như là những sầu, bi, khổ, ưu, não. Muốn tránh những bất an đó, chúng ta phải trì tụng kinh chú, thiền tọa, kinh hành tức là trau giồi tâm ta bằng cách tu tâm dưỡng tánh, thực hành theo giáo lý của đức Phật dạy như nếu:
– Đau khổ do vì tâm tham, thì chúng ta phải cố gắng tu pháp môn bố thí. Quán rõ thật tướng của vạn pháp là vô thường, khổ, vô ngã cho lòng tham lắng xuống.
– Phiền muộn do vì tâm sân làm chúng ta đau khổ, thì phải tu pháp quán từ bi, tu pháp nhẫn nhục, để đập tan ngọn lửa sân hận đang hừng hực đốt cháy từ trong tâm của ta.
– Nếu đau khổ phiền muộn do vì si mê tật đố, thì chúng ta phải tu pháp quán nhân duyên, để nhận thức rõ ràng tất cả sự vật đều do nhân duyên giả hợp, là trống rỗng, là hư dối, chứ không phải là chắc chắn như ta tưởng.
– Nếu đau khổ phiền muộn do vì tâm ganh tỵ, thì chúng ta phải phát khởi tâm hoan hỷ để chúng ta sẳn sàng tùy hỷ những cái hay và những sự thành tựu của người khác.
Khi đã quán rõ được các pháp như vậy, thì tự nhiên tâm tham lam, tật đố sẽ lắng xuống để nhường chỗ cho một nhận thức rộng rãi hơn, sáng suốt hơn. Lúc đó chúng ta sẽ không bị cái tâm tình tham lam chấp thủ làm điên đảo. Như vậy khi mà chúng ta giải trừ được sự tác động, quậy rối của tham, sân, si trong tâm thì đó là cách cầu an làm cho tâm hồn nhẹ nhàng trong sáng, không còn phiền muộn.
Ngược dòng lịch sử, chúng ta thấy, Thầy Thần Quang đến cầu xin Tổ Bồ Đề Đạt Ma an tâm cho mình, cũng chính vì lẽ này.
Thần Quang là một cao tăng Trung Hoa, sau khi tham học nhiều nơi nhưng không thỏa mãn tâm cầu đạo. Cuối cùng nghe đến danh Tổ Sư Đạt Ma, Thầy không quản mệt nhọc lặn lội tìm đến để gặp Tổ Bồ Đề Đạt Ma, đang ngồi lặng yên nhìn vách tại chùa Thiếu Lâm ở Tung Sơn, và ân cần tha thiết van xin Tổ giải thoát nổi thống khổ ray rứt trong lòng. Theo truyền thuyết khi Thầy Thần Quang đến cầu đạo thì Tổ Bồ Đề Đạt Ma bảo:
– Ngày xưa chư Phật chư Tổ cầu đạo phải trải qua không biết bao nhiêu gian nan khó nhọc mới được đạo, ngày nay ngươi có được là bao mà đòi cầu đạo, thôi hãy đứng đó cho đến khi nào tuyết trắng thành hồng thì sẽ hay, và sau đó Tổ tiếp tục ngồi yên lặng, lầm lì thản nhiên một cách tàn nhẫn.
Thầy Thần Quang không nản chí, đứng suốt đêm giữa tuyết với đôi mắt long lanh, hoài vọng. Và sau đó lấy thanh kiếm chặt đứt cánh tay trái của mình và thưa:
– Bạch Thầy tuyết bây giờ đã biến thành hồng rồi.
Tổ cảm thấy động lòng, liền hỏi:
– Ngươi đến đây để cầu việc gì?
Thần Quang rưng rưng nước mắt vội thưa:
– Bạch Thầy, tâm con không an, xin Thầy an tâm cho.
Tổ bảo:
– Người hãy đem tâm ngươi ra đây, ta an cho.
Thần Quang sửng sốt một hồi lâu, rồi thưa tiếp:
– Bạch Thầy, con kiếm tâm mà chẳng thấy đâu cả.
Tổ đáp:
– Đó, ta đã an tâm cho người rồi đó.
Đây là một hình ảnh hết sức đẹp, để tưởng nhớ đến chư liệt vị tổ sư đã đi qua trong đời và cũng là để nhắc nhở, sách tấn chúng ta trên con đường tu học, chúng tôi xin được tóm tắc như sau:
– Lác đác tuyết rơi trắng một màu
Mây trời phiêu bạt hướng về đâu
Thiếu Lâm Thiền Tự trong tỉnh giác
Có khách thiền tăng đến nguyện cầu
Có kẻ tìm cầu đạo Thích Ca
Vượt qua muôn dặm, vượt quan hà
Ðể tìm chân lý cho nhân loại
Mong ước mai nầy dệt gấm hoa.
Và rồi thuở đó Tổ Ðạt Ma
Chín năm diện bích ngắm trăng tà
Tuyết rơi trên đỉnh Tung Sơn đó
Một Huệ Khả cầu đạo Thích Ca.
Và truyện lưu truyền ở cửa không
Cánh tay đứt xuống tuyết điểm hồng
Người cầu an tịnh tâm an tịnh
Khai lộ chân truyền giáo thiền tôn.
Không biết rồi đây có ai không?
Băng rừng đạp tuyết núi chập chùng
Ði tìm cái đạo như Nhị Tổ
Ðã có người chưa có ai không?
Thấy cảnh nhớ về Tổ xa xưa
Tâm từ tế độ mấy cho vừa
Người nay xin đốt hương lòng sáng
Dâng cúng mười phương sớm chiều trưa.
Đây là một cách an tâm thâm thúy nhất trong muôn vàn cách an tâm mà đức Phật đã dạy, được ghi lại thành văn và không thành văn. Nếu ai có một tâm hồn tha thiết cầu an tâm, để không còn phiền muộn và biết tiếp thu thấu đáo pháp an tâm của đức Phật thì chắc chắn cũng sẽ được an tâm như Thầy Thần Quang.
Vậy vấn đề thảnh thơi an lạc, không còn phiền muộn không phải chỉ một mực cầu an thân mà bỏ mất sự an ổn nơi tâm hồn. Lý do rất giản, nếu thân không có tâm thì cũng chỉ là một đống thịt, một xác chết. Cho nên, thể xác được an lạc khi có sự cảm nhận ấy của tâm thức, và cấp độ an lạc cũng tùy thuộc vào sức mạnh của tâm thức. Như có người dù bệnh nhẹ, nhưng tâm hồn yếu đuối, khiếp nhược thì những nỗi khổ đau của cơn bệnh sẽ tăng gấp bội. Và ngược lại, người bị bệnh nặng, nhưng với tâm thức bình tĩnh sáng suốt, có ý chí vững mạnh, không giải đải buông xuôi, thì nỗi khổ đau của cơn bệnh cũng trở nên nhẹ. Với sức mạnh của tâm hồn, tức là tâm an lạc, có tác động làm vơi đi những khổ đau ở thân xác.
Ở đời thường có hai hạng người sống theo hai lối sống thái quá:
– Có hạng chỉ chú trọng cưng dưỡng thân xác, tạo an lạc cho thân xác bằng sự thỏa mãn những ham muốn nhục dục.
– Lại có hạng quá khổ hạnh bằng sự tiết chế tất cả những nhu cầu tối thiểu và tự hành hạ thân xác. Đó chỉ là những lối sống không trung đạo, thiếu cân bằng mà ngày xưa đức Thế Tôn đã từ bỏ và cấm các đệ tử thực hành.
Trong bài pháp Bốn Sự Thật đầu tiên cho năm Thầy Tỳ Kheo, câu mở đầu Ngài dạy rằng:
Có hai thái cực cần phải tránh xa:
– Thái cực thứ nhất là sống xa hoa trụy lạc vật dục, đó là lối sống thấp hèn, không đưa đến giải thoát, cần phải tránh.
– Thái cực thứ hai là sống ép xác khổ hạnh, nhịn ăn nhịn mặc, chịu đói chịu rét, đứng giữa trời, nóng lạnh hành hạ, thì đó cũng là lối sống tà vạy không đưa đến giải thoát, cần phải tránh.
Đức Phật khuyên cần phải tránh xa hai lối sống ấy để tu hành mới đưa đến giải thoát. Như vậy Ngài không phủ nhận đời sống về thể xác, nhưng Ngài cũng không tán dương cái lối sống tham đắm vật chất, chỉ biết chú trọng đến thân mà không chú trọng đến tâm. Một trong những bài pháp không lời, nhưng hùng hồn nhất trong cuộc đời đức Phật, đó là sự quyết định dứt khoát ra đi tìm đạo. Sự ra đi nầy Ngài chấp nhận cuộc sống sương gió lạnh lùng, nắng cháy mưa chan. Bài pháp Đức Phật đã bỏ quốc thành, thê tử đi xuất gia là dạy cho chúng ta bài học, nhắc nhở cho tất cả những ai muốn đi trên con đường an lạc, thì trước nhất phải có lối sống quân bình, chứ không phải bỏ ăn, bỏ làm, ghét bỏ của cải hoặc phung phí của cải, nhưng phải biết sống không say mê vật chất, không say mê theo đời sống dục lạc, xa hoa, không tìm hạnh phúc, không chôn vùi cuộc đời vào những tham muốn thấp hèn. Bởi vì nhiều tiền chưa hẳn có hạnh phúc, chức trọng quyền cao chưa chắc có hạnh phúc. Các yếu tố vật chất chỉ là những phần phụ thuộc, còn cái hạnh phúc chân thật bao giờ cũng chính là trong lòng chúng ta.
Khi lòng ta khởi tham lam do bị tiền của chi phối, bị quyền lợi danh vọng chi phối, thì tấm lòng của ta trở nên hẹp hòi ích kỷ, khi đã ích kỷ thì nó không thể trải rộng để hứng lấy những hạnh phúc cao thượng, chân thật được. Bởi vậy, trên bước đường tu tập cầu giải thoát an lạc không còn phiền muộn, người Phật tử phải chú trọng tu tập cả hai mặt thể xác lẫn tâm hồn:
– Với thể xác luôn luôn phải biết tri túc, cần có cơm đủ no, mặc đủ ấm, cần đủ những tiện nghi tối thiểu mà không nên hưởng thụ tham đắm vật chất tức là phải sống quân bình không để rơi vào hai thái cực như Phật đã dạy.
– Với tinh thần, phải giữ cho tâm hồn luôn luôn được trong sáng, được rộng rãi. Người Phật tử càng biết mở rộng từ bi tâm, càng diệt trừ được chấp thủ, tham ái thì càng có hạnh phúc chân thật.
Khi tâm hồn không trong sáng, nhiều tham đắm thì dù ở trên vàng trên bạc thì chúng ta vẫn không cho là đủ, không cho là đủ vì còn mong cầu là còn khổ. Hạnh phúc chỉ đến với những tâm hồn biết tiết chế, có đạo đức cao cả, có tu tập theo giáo pháp đức Phật, sống trong sáng hướng thiện, sống không tham và biết đủ như trong kinh Di Giáo đã dạy:
– Người nhiều ham muốn, nhiều tham cầu lợi dưỡng nên khổ não cũng nhiều. Người biết đủ tuy nằm dưới đất mà vẫn lấy làm an vui, người không biết đủ, dù ở thiên đường vẫn không vừa ý.
Là ngời Phật Tử, chúng ta nên noi theo gương chư Tổ đức, nơi đó chúng ta thấy quý ngài có đời sống vật chất rất đơn sơ, đạm bạc, thế mà tâm hồn quý ngài rất tự tại, rất khoan khoái, rất an nhiên vui vẻ. Không hề thoáng những nét cau có, giận hờn hoặc buồn rầu. Bởi vì tâm hồn của quý ngài đã vượt lên trên tất cả những tầm thường của đời sống thế gian, đời sống của tham lam ích kỷ. Các ngài đã làm chủ được tâm, điều phục được tâm, để tâm không bị chi phối bởi ngoại cảnh, và tham, sân, si, nên đối trước hoàn cảnh nào các ngài cũng vẫn tự tại an vui.
Thông thường chúng ta chỉ đi tìm sự an bình trong thế giới hiện tượng, tìm nguồn vui trong thế giới vật chất. Tìm an bình trong thế giới hiện tượng thì muôn vạn sắc mầu, cho nên khó có thể làm cho chúng ta thỏa mãn. Tìm nguồn vui trong thế giới vật chất, thì vật chất luôn chuyển biến vô thường, một khi không thỏa mãn thì cũng khổ. Vì thế cho dù chúng ta chạy theo thế giới hiện tượng hay vật chất, rốt cuộc rồi chúng ta cũng chỉ nắm bắt được những bào ảnh an lạc. Và chính cái mà chúng ta cho là an lạc đó lại là nhân của cái khổ, nhân quả quả nhân, mãi mãi vận hành trong quá trình sinh tử.
Hình ảnh của một con người không chạy theo thế giới hiện tượng và vật chất là một con người thoát tục không ai xa lạ chính là hình ảnh của con người giải thoát đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Câu chuyện được trong kinh ghi lại. Một hôm đức Phật một mình ngồi trên đám cỏ, lúc đó có một người Bà La Môn đi qua thấy vậy liền hỏi:
– Sa môn Cù Đàm có sầu muộn hay sao mà ngồi một mình cô độc thế?
Đức Phật trả lời:
– Ta mất gì mà Ta sầu muộn?
Ông ta lại hỏi:
– Nếu không sầu muộn thì chắc là Ngài hoan hỷ, mà hoan hỷ thì sao lại ngồi cô độc một mình?
Đức Phật lại trả lời:
– Ta được gì mà Ta hoan hỷ?
Người đó ngạc nhiên hỏi lại:
– Không sầu muộn thì hoan hỷ, không hoan hỷ thì sầu muộn. Ngài không hoan hỷ, không sầu muộn là nghĩa làm sao?
Đức Phật trả lời rằng:
– Hoan hỷ chỉ đến với người có tâm sầu muộn, sầu muộn chỉ đến với người có tâm hoan hỷ. Ta đã dứt bỏ nguồn gốc của sầu muộn rồi, cho nên Ta không sầu muộn, cũng không hoan hỷ. Tâm ta không dao động.
Qua lời dạy ngắn gọn, nhưng hàm chứa một ý nghĩa thâm sâu vô cùng, giúp ta soi rọi vào thực tế cuộc đời để thấy rằng:
– Hoan hỷ là điều người đời mong muốn, và chỉ đạt sự mong muốn qua sự nắm bắt, chấp thủ, như mong cho được trúng số độc đắc, mong sự ước muốn tìm cầu của cải vật chất, như vậy thì cái hoan hỷ đó là những hoan hỷ đi đến với người có tâm thiếu thốn và sầu muộn, và sau hoan hỷ đó chắc chắn là những sầu muộn âu lo của mất mát. Như người vừa trúng số thì sung sướng vô cùng nhưng liền sau đó không khỏi lo sợ mọi người ai cũng biết, nhẹ thì bà con biết sẽ đến xin, đến mượn, hoặc bị mất, hoặc bị cháu con tranh giành làm mất hòa khí gia đình. Nặng thì chắc chắn sẽ có kẻ xấu rình rập trộm cắp, bắt cóc người tống tiền, cướp của giết người. Nếu cố giấu không cho ai biết thì cũng phập phồng sợ người ta biết.
Tham cầu là một nỗi khổ, khi thành đạt là một sự hoan hỷ, rồi mất mát lại là một nỗi khổ. Sầu muộn rồi hoan hỷ, hoan hỷ rồi sầu muộn cứ nối đuôi nhau mãi.
Có người đang cồn cào vì cơn đói, đang khổ vì đói, nếu ai đem cho thức ăn thì họ sẽ rất sung sướng, rất hoan hỷ. Thế là hoan hỷ đi đến với người có tâm sầu muộn.
Có người đang hoan hỷ trong cái nhà mới mua, bỗng bị một kẻ tinh nghịch ném phân chọi đá làm loang lỗ tường vách, làm người ấy tức tối, sầu muộn, như vậy là sầu muộn đi đôi với người có tâm hồn hoan hỷ.
Cuộc đời của chúng ta cứ mãi diễn đi diễn lại, hoan hỷ rồi sầu muộn, sầu muộn rồi hoan hỷ. Ngày qua tháng lại. Suốt cả cuộc đời mãi loanh quanh ở trong cái vòng, cái tâm lượng của chúng ta phân biệt, so đo phe mình, phe ta mà sanh ra như thế.
Đức Phật, Ngài đã dứt hết nguồn gốc chấp thủ, tức là diệt hết nguồn gốc của khổ đau. Ngài luôn hoan hỷ, một sự hoan hỷ không tạo nên bằng tiền tài danh vọng, chức quyền mà là một sự hoan hỷ đã dứt sạch nguồn gốc khổ đau, tức là dứt sạch vô minh, tham ái, chấp thủ. Bởi vậy, Ngài dạy:
– Ta không hoan hỷ cũng không sầu muộn.
Nhưng chính cái không hoan hỷ không sầu muộn trong đối đãi ấy, mới là một sự hoan hỷ không thể diễn đạt bằng cái quan niệm so sánh, có cái nầy vì cái kia có. Đây chính là sự hoan hỷ của đức Phật được tạo nên bằng trí giác ngộ, bằng tâm từ bi, lòng hỷ xả, đó là sự hoan hỷ vi diệu, vĩnh cửu. Một sự hoan hỷ phát xuất từ nội tâm của một người tu tập đã tự tại với nguồn tâm trong sáng. Đó là sự hoan hỷ không bị ai cướp mất vì không phải giành của ai mà có được, nhưng lại ban bố cho tất cả.
Chúng ta là người học Phật, ít nhiều gì chúng ta cũng đã có một số vốn luyến Phật Pháp căn bản, do vậy chúng ta nên cố gắng xây dựng niềm hoan hỷ, an lạc bằng những công phu tu tập, trưởng dưỡng từ bi, khơi sáng nguồn tri giác, thì đằng sau của sự hoan hỷ an lạc đó không nhuốm bóng dáng sầu muộn, sợ hãi.
Nói tóm lại, là người Phật Tử có học và hành giáo pháp của Phật, chúng ta nên quay trở về với nguồn nội tại của mình. Một khi chúng ta là người có tu tập là người hiểu biết tâm, cho nên khi tham tâm khởi, sân tâm khởi, tâm kiêu mạn khởi .. v.v… thì chúng ta phải lập tức điều phục tâm, chế ngự tâm để hướng dẫn tâm của chúng ta trở thành tự tại, và giải thoát. Được thế, thì khi chúng ta đứng trước bất cứ một hoàn cảnh nào, chúng ta cũng tĩnh giác, tâm không bị chi phối. Hơn nữa chúng ta lại còn chủ động, biết sử dụng mọi phương tiện, trong mọi hoàn cảnh, để phục vụ những mục đích cao đẹp, đó là làm chủ được đời sống cả vật chất lẫn tinh thần là một cách sống an lạc, tự tại giải thoát, không còn phiền muộn.
Là người Phật tử, chúng ta còn sống trong cuộc sống tương quan giữa cuộc đời, do vậy chúng ta cần phải có tiền, cần có cơm ăn, áo mặc, cần có mọi tiện nghi cần thiết trong cuộc sống. Tuy nhiên chúng ta cũng phải cần có tu trì, phải có từ bi hỷ xả, cần có trí tuệ, có bố thí, trì giới .. v.v…
Thực hiện lời Phật dạy, là chúng ta đã xây dựng bản thân và xã hội tốt đẹp, và cũng là cách mà chúng ta có thể sống cuộc sống không còn phiền muộn, trạng thái không còn phiền muộn nầy là một trạng thái thiết thực nhất, đem lại an lạc cho nhiều đời, ngay hiện tại cũng như các đời khác trong tương lai.
Thực hiện lờì Phật dạy, là chúng ta phải chịu khó tu học, tụng kinh, niệm Phật, thiền tọa kinh hành, trưởng dưỡng thiện tâm là mục đích hiện đời chúng ta không còn phiền muộn, và trong tương lai sẽ tiến dần đến đạo quả giác ngộ giải thoát.
Archive for the ‘Cuộc sống - Life’ Category
Không Còn Phiền Muộn
Đăng bởi Hoàng Vinh on Tháng Mười Hai 13, 2007
Đăng trong Cuộc sống - Life | Leave a Comment »
“Yoga” hay ” Thiền Công ”
Đăng bởi Hoàng Vinh on Tháng Năm 17, 2007
“Yoga” hay ” Thiền Công “
có lợi cho sức khoẻ như thế nào ?Chu Tất Tiến
“Yoga” hay “Thiền Công” phát xuất từ Ấn Độ khoảng 6 đến 7 ngàn năm trước, tiếng nguyên thuỷ theo Sanskrit là”yuj” có nghĩa là kết hợp giữa linh hồn cá nhân (atma) và tinh tuý vũ trụ (paramatma). Khởi thủy, Thiền Công được lập ra với mục đích đi tìm sự Khai Ngộ (Enlightenment), sau đó đã chuyển hóa thành nhiều môn phái Yoga khác. Mỗi môn phái lại có những tư tuởng chỉ đạo khác nhau như Karma Yoga chú trọng vào sự Từ Bỏ Bản Ngã, Bhakti Yoga chú tâm về sự Dâng Hiến, Jnana Yoga, Raja Yoga chỉ quan tâm về Kiến Thức… Những thế, thức tập luyện cũng khác nhau, có thể bất động, hay động, mỗi thế, thức lại biến hoá thành nhiều kiểu dáng, khó có thể đếm đuợc hết mọi loại kiểu, thức. Sau khi được truyền qua các quốc gia khác, nhất là Tây Âu, Thiền Công tập trung nhiều về Chữa Bệnh, Điều Hòa Tâm Linh, tìm ra sự An Vui cho cá nhân một khi tâm thân hợp nhất, khỏe mạnh, và hạnh phúc.Như vậy, Thiền Công hay Yoga hoàn toàn khác với Thiền hay Zen đặt trọng tâm vào sự suy tuởng có tính chất tôn giáo, nguyên thuỷ khai sinh từ Ấn Độ với tên gọi từ tiếng Sanskrit: “dhyàna”, triển khai tại Trung Hoa khoảng thế kỷ thứ 6 duới thời Tổ Sư Bồ Đề Lạt Ma (Bodhiharma) cũng đồng thời là Tổ Sư cuả môn phái Thiếu Lâm. Vào thế kỷ thứ 9, Thiền được truyền bá sang Đại Hàn và được gọi là Seon. Thế kỷ thứ 12, Thiền được phát triển ở Nhật bởi Tổ Sư Myòna Eisai sau khi Ngài đến Trung Hoa rồi về nuớc, lập ra hệ phái Linji, còn gọi là Rinzai. Ở Việt Nam, vào khoảng cuối thế kỷ 16, Thiền Sư Tì Ni Đa Lưu Chi (Vinitaruci) nguời Ấn Độ đến Việt Nam phổ biến về Thiền, và dưới thời Ngài Thiền Sư Vạn Hạnh, Thiền đuợc phát huy mạnh mẽ nhất cho đến ngày nay. Trên thế giới, hiện tại, những hình thức về Thiền rất đa dạng. Ngoài Tu Thiền (Thiền Tông), những nguời thực tập Thiền còn thể hiện Thiền trên hội hoạ (Tranh Thiền), thi ca (Thơ Thiền), cắm hoa (Thiền Hoa), trang trí (vuờn Thiền), hay kiến trúc theo Thiền… Những vuờn cỏ với sỏi trắng đuợc vun theo những đuờng nét đơn sơ nhưng đầy ý nghĩa cuả Nhật nổi tiếng khắp thế giới và đuợc hàng triệu nguời từ Đông sang Tây rất hâm mộ.
Vì sự đa dạng về Thiền như thế, nguời viết đã phiên dịch tiếng Yoga thành Thiền Công (Thiền = Tập trung tư tưởng, Công = sự vận dụng sức lực tinh thần hay vật chất), để tránh sự ngộ nhận với Tu Thiền. Và cũng vì mục đích là để tìm sự An Vui, Hạnh Phúc qua Sức khỏe, không mang tính chất tín nguỡng, người viết đã đơn giản hóa việc tập Thiền Công qua 4 thế: Ngồi, Nằm, Quỳ, Đứng. Mỗi thế lại có 4 thức. Tên gọi của những thức này do người viết mạo muội đặt bằng tiếng Việt cho dễ nhớ, và để không bị ngộ nhận với bất cứ thế thức nào khác. Việc tập Thiền Công nên được thực hiện trong phòng vắng, không ồn ào; nếu có thể tập ở ngoài vườn, nơi không khí mát mẻ thì tốt hơn. Mỗi ngày tập khoảng 1 tiếng đồng hồ, thì chỉ trong vòng 1 tháng, cơ thể và tinh thần sẽ đổi khác, tươi trẻ hơn, khỏe mạnh hơn, làm việc bền bỉ hơn, hạnh phúc hơn, và một số bệnh kinh niên có thể biến mất.
A.NGỒI
1-Toạ thiền: Ý Nghĩa = Con nguời là trung tâm điểm cuả vũ trụ. Không có Con Người, Vũ trụ chỉ là con số không. Ngồi xếp bằng tròn, không nhất thiết phải gác chân lên nhau, hai bàn tay để lên hai đầu gối, ngón trỏ và ngón cái cuả mỗi tay chạm nhau, lưng thật thẳng (Nếu ngồi cong lưng, sẽ bị đau lưng, vì xuơng sống sẽ bị cong, chạm vào dây thần kinh làm đau. Nếu không tự ngồi thẳng đuợc, thì ngồi sát tuờng, cho lưng dưạ vào tuờng.) Nhắm mắt lại, tập trung tư tuởng, không nghĩ ngợi bất cứ điều gì, rồi hít vào thật chậm, khi hơi xuống tới bụng (đan điền) thì nén hơi lại và đếm 1,2,3 rồi từ từ thở ra. Trong khi hít vào và thở ra, phải tuởng tuợng đến luồng khí đi từ lỗ mũi vào trong ngực, xuống bụng, tuởng tuợng đến hơi thở đang nằm trong bụng, rồi tuởng tuợng đến hơi thở đang ra ngoài lỗ mũi. Những ngày đầu tiên, chưa quen, có thể cảm thấy hơi thốn lưng, nhưng dần sẽ quen và không thấy thốn lưng nưã. Hít thở từ 10 đến 20 lần.
Thế này trị bệnh tim, mạch, ổn định thần kinh, thăng bằng trí nhớ, điều trị sau cơn “stroke” hay “heart attack”, chống sự hồi hộp, lo lắng, mất ngủ. Có nguời chỉ hít thở như thế hơn 10 lần đã ngủ gục. Tập chừng một tháng, trí óc minh mẫn, sáng suốt hơn gấp bội.
2-Bái Tổ: Ý Nghiã = Xã hội có thứ tự trên dưới. Biết kính trên, nhường dưới, cuộc sống mới tươi đẹp. Cũng ngồi như trên, nhưng hai bàn tay chắp lại truớc ngực. Hít thở từ 10 lần trở lên. Tác dụng chữa bệnh giống như Tọa Thiền.
3-Hoành Thiền: Ý Nghiã = Con Nguời đuợc tạo ra bình đẳng. Nên tôn trọng lẫn nhau.
Ngồi như trên, nhưng hai tay dang thẳng ngang ra hai bên. Hít thở tối đa 10 lần. Cùng một tác dụng như hai thế trên.
4-Trung Thiền: Ý Nghĩa = Nhìn lại bản thân xemmình đã làm gì cho những người chung quanh vui vẻ chưa? Ngồi cúi đầu xuống, nhìn vào bụng mình. Hít thở như trên. Chữa các bệnh về tiêu hoá. Làm 10 lần. Khi xong, phải xoay cổ vài lần từ phải sang trái rồi từ trái sang phải, cho cổ không bị xơ cứng.
B. QUỲ
1-Hổ Phục: Ý Nghĩa = Con Nguời chỉ là cát bụi và thật nhỏ bé truớc thiên nhiên. Quỳ úp trán xuống đất, hai tay để thẳng, cùi chỏ để trên đất, xoải dài trên đầu. Hít thở chừng 10 lần. Giúp ổn định tim, mạch, thần kinh. Khi quá mệt sau một công việc nặng, tập thể thao quá độ, đánh võ… chỉ cần quỳ xuống và hít thở trong vài phút là khoẻ lại ngay.
2-Tàng Long: Ý Nghiã = Đôi khi chúng ta phải biết thu nhỏ mình lại, Quỳ áp một bên má xuống đất, nếu áp má bên trái xuống thì thọc tay trái qua duới nách cuả tay phải, nếu áp má bên phải xuống đất, thì thọc tay phải qua nách trái. Ép mình xuống thấp. Hít thở. Trị mất ngủ. Thay đổi tay từ trái sang phải, mỗi bên hít thở 10 lần.
3-Độc Long: Ý Nghiã = Vận dụng ý chí để huớng thiện. Quỳ theo thế Hổ Phục, nhưng giơ một chân thẳng lên trời. Hít thở. Trị bệnh thiếu máu, hay xây xẩm, hay nhức đầu.
4-Thiềm Thừ: Ý Nghĩa = Tận dụng năng lực truớc, phó thác cho Thiên Mệnh sau. Qùy áp trán xuống đất, hai tay bỏ xuôi theo thân mình, hai bàn tay huớng về phiá bàn chân. Hít thở. Trị yếu tim, thần kinh.
C. NẰM
1-Bình Sơn: Ý Nghiã = Chan hoà với mọi người sẽ được mọi người yêu thương..
Nằm ngửa, không gối, hai tay xuôi theo thân mình. Từ từ rút gót chân về, nhấc thân mình lên, chỉ bám trên đất bằng gót chân và hai vai, giữ trọng lượng ở thắt lưng. Hít thở chừng 5 lần thôi, không cố gắng quá. Trị đau bắp thịt thắt lưng, yếu sinh lý, nguời có hơi thở quá ngắn và gấp rút. (Thế này không áp dụng đuợc với nguời mổ xuơng sống, thay thận, tật xuơng sống bẩm sinh…)
2-Cung Tận: Ý Nghiã = YÙ Chí của Con Người như cánh cung, càng căng càng mạnh. Nằm sấp, hai tay xuôi theo thân mình. Từ từ đầu và chân lên tạo thành hình cây cung, hít thở 3 lần rồi hạ đầu và chân xuống, nghỉ vài giây, lại cong lên, hít thở. Chưã đau thắt lưng, yếu sinh lý, lãnh cảm. (trừ người đang hoặc đã mổ xương sống.)
3-Thiên Vị: Ý Nghiã = Bỏ cái “Tôi” đi, thìø tiến buớc nhanh nhẹn hơn. Nằm ngưả, không gối, hai tay xuôi theo mình, từ từ rút chân về gần mông, nhấc hẳn mông lên cao, mắt nhìn theo đùi, hít thở. Chưã yếu sinh lý, lãnh cảm, đau thắt lưng.
4-Phân Thân: Ý Nghiã = Mọi vật đều vô thuờng. Ta có thể là Ta, có thể không là Ta.
Dành riêng trị bệnh mất ngủ. Nằm thẳng, không gối, hai tay xuôi theo mình. Nhắm mắt, hít thở chậm rãi chừng 10 lần, theo dõi hơi thở. Sau đó, tập trung tư tuởng, hít sâu tối đa, nén hơi, đếm 1,2,3, rồi thở ra chừng 10 lần nữa, bắt đầu “phân thân”, tức là chia mình ra làm hai. Tuởng tuợng “mình” đang đứng bên cạnh giuờng, ngó lại “mình” đang nằm trên giuờng. Ngó từ chân lên đầu. Truớc hết, ngó ngón chân cái, bên trái, cố nhớ lại những kỷ niệm xẩy ra ở ngón chân này (chẩy máu, sứt móng…) từ hồi còn nhỏ… Hết ngón cái qua ngón bên cạnh, lần luợt ngó hết 5 ngón chân trái, qua bên chân phải, cũng đi từ ngón cái. Hết năm ngón chân, qua gót chân trái, gót chân phải, rồi lên mắt cá chân, lên cổ chân, lên ống quyển, đầu gối, lên đùi… Hết một chân, qua chân kia. Hết chân, lên bụng, lên cổ, qua vai, xuống cánh tay, cùi chỏ, bàn tay… lộn lên tay kia… rồi tới cổ…mặt… Thuờng thì lên tới cánh tay, đã ngủ say… Ngủ kiểu này giúp tăng cuờng sức mạnh, an thần, không cần ngủ 7,8 tiếng mà vẫn khoẻ.
D. ĐỨNG
1-Bạch Hạc : Ý Nghiã = Con nguời như chim Hồng, chim Hạc, luân chuyển không ngừng. Đứng thoải mái, hai tay chắp truớc ngực, từ từ giang tay ra hai bên, cúi nguời về truớc, rồi cong dần cho mặt gần như song song với mặt đất, trong khi một chân giơ lên ngang với mặt đất. Giữ sức nặng toàn thân trên một chân. Hít thở. Trị bệnh tim, mạch, cao mỡ, cao máu.
2-Độc Kê : Ý Nghiã = Tự chủ thắng sức mạnh. Đứng thoải mái, hai tay chắp truớc ngực, từ từ co chân trái lên, gác bàn chân trái vào sau bắp vế chân phải, hai tay từ từ giang ngang ra hai bên. Hít thở. Trị bệnh tim, mạch, cao mỡ, cao máu.
3-Kim Quy : Ý Nghiã = Hãy lắng nghe nhiều hơn là nói. Đứng áp sát vào tuờng, má trái áp vào tuờng, 10 đầu ngón chân cũng sát tuờng, tay trái thọc ngang, xuyên duới nách phải, hít thở. Đổi nguợc lại, áp má phải, thọc tay phải qua tay trái. Trị tim mạch.
4-Huớng Thiên : Ý Nghiã = Sống huớng thiện, huởng quả phúc. Đang đứng chân truớc chân sau, từ từ rùn chân truớc xuống, chân sau duỗi thẳng ra, cho thắt lưng thẳng, hai tay song song từ từ đưa về phía trước, hai bàn tay chụm lại, rồi đưa thẳng lên trời. Khi hai tay giơ lên, thì hít vào, nén hơi, rồi từ từ thở ra, xong thả nguời trở lại vị trí đầu. Tiếp tục nhịp nhàng như vậy 10 lần. Tăng cuờng sức mạnh toàn thân.
Lưu ý : Để Thiền Công có thể chưã hết bệnh này mà không tạo ra bệnh khác, phải luôn luân chuyển các thế Động và Bất Động. Những nguời muốn ngồi Thiền thật lâu, phải tập từ nhỏ để cơ thể quen dần. Lớn tuổi, không nên để bất cứ bộ phận nào Bất Động lâu. Những nguời dùng Computer, thợ may… có thể bị mổ cổ tay vì cổ tay luôn để Bất động. Có nguời phải mổ vai. Muốn tránh đau nhức, thỉnh thoảng phải lắc, xoay cổ tay chừng vài phút. Lắc trên xuống duới, lắc trái sang phải, lắc về phía truớc rồi ra sau. Các vị cao niên, sau khi ngồi các thế Thiền chừng 20 phút, phải đứng dậy, vặn vẹo thân thể cho các khớp xương không bị cứng. Sau thế Hoành Thiền, phải xoay vai theo một vòng tròn truớc sau, mà trung tâm điểm của vòng tròn là đầu vai. Xoay từ sau ra truớc rồi nguợc lại từ truớc ra sau. Trong khi xoay, vặn như thế, phải tiếp tục hít sâu và thở dài. Truờng hợp hay bị bệnh đau vai, đau bàn tay, hay vai bị sái: đứng khom nguời xuống gần 90 độ, một tay vịn vào bàn, tay kia thả lỏng và vẽ một vòng tròn tuởng tuợng trên mặt đất chừng 10 vòng, rồi trở lại tay kia. Làm chừng 20 lần sẽ hết đau vai.
Trong phạm vi một bài viết ngắn ngủi, có thể còn thiếu sót, mong được cao nhân chỉ giáo thêm và cũng chân thành gửi tới mọi nguời lời chúc “sống vui, sống khỏe, sống hạnh phúc.”
Chu Tất Tiến
Đăng trong Cuộc sống - Life | Leave a Comment »
‘Công thức’ cho cuộc hôn nhân hạnh phúc
Đăng bởi Hoàng Vinh on Tháng Tư 22, 2007
‘Công thức’ cho cuộc hôn nhân hạnh phúc
![]() |
| Ảnh: Corbis.com. |
Nếu bạn muốn chồng lãng mạn hơn hoặc mong anh ấy giúp việc nhà, hãy nói ra. Hầu hết chúng ta đều muốn bạn đời phải đọc được ý nghĩ trong đầu mình, nhưng như thế, bạn chỉ tự làm khổ mình thôi.
Có nhiều cách để tạo nên một cuộc hôn nhân hạnh phúc. Và sau đây là 7 điều nho nhỏ có thể giúp bạn giữ mãi ngọn lửa nồng ấm trong quan hệ vợ chồng.
1. Thật sự dành thời gian và công sức cho cuộc hôn nhân của mình: Nếu bạn muốn giữ cho cuộc hôn nhân tồn tại và ngày càng tươi đẹp, bạn phải thật sự mong muốn điều đó. Bạn nên nhận định rõ ràng rằng hôn nhân đóng vai trò quan trọng thế nào trong cuộc sống của mình và quyết định dành thời gian cũng như sự quan tâm tới nó ra sao.
Những gì bạn nói hay dự định không quan trọng bằng những gì bạn làm. Vì thế, bạn nên nhìn vào những hành động xem chúng có đồng nhất với các dự định hay không và tự hỏi mình đã dành đủ thời gian và công sức cho mối quan hệ này chưa?
2. Tập trung vào những gì bạn thích và yêu người bạn đời thay vì quá chú tâm đến những gì bạn không thích và dễ phát cáu. Nếu bạn muốn bảo vệ cuộc hôn nhân khỏi sự lừa dối, các mối quan hệ ngoài luồng, và cả kết cục tan vỡ, nên bắt đầu bằng việc hướng tới những khía cạnh tích cực trong cuộc hôn nhân thay vì khía cạnh tiêu cực.
Bạn hãy dừng lại ngay khi bắt đầu phê bình hay chỉ trích vợ/chồng bằng lời hay ngay cả chỉ bằng ý nghĩ trong đầu. Thay vì thế, bạn có thể hướng suy nghĩ về những gì mình yêu mến trong con người của anh ấy/cô ấy. Như thế, bạn sẽ thấy cuộc hôn nhân của mình tốt hơn biết bao nhiêu.
3. Luôn luôn tỏ ra tử tế với người bạn đời của mình: Sự tử tế đóng một vai trò then chốt trong hôn nhân, vì thế bạn hãy luôn đối xử tử tế với người bạn đời. Không hiếm người đối xử với chồng/vợ của mình tệ hơn cách họ cư xử với bạn bè, thậm chí là người không quen biết.
Nếu bạn phải chọn giữa hai điều: Ta sẽ “đúng” hay ta sẽ tử tế với nhau, nên chọn vế thứ hai. Ngay hôm nay, thử làm một điều gì đó thật tốt mình không thường làm với bạn đời mà không mong đợi được đền đáp, bạn sẽ thấy trong lòng hạnh phúc lắm đấy.
4. Đánh giá cao và tỏ lòng biết ơn đối với vợ/chồng cũng như biểu lộ ý nghĩa của họ với bạn: Có lẽ, bạn biết mình nên thốt ra câu “cám ơn anh/em” nhưng chỉ tại không có thời gian và công sức để làm điều đó. Bạn nên tập thói quen biểu lộ sự đánh giá cao và lòng biết ơn những gì chồng/vợ làm cho mình, ngay cả bằng những điều tưởng chừng đơn giản nhất như “Anh thích nụ cười của em” hay “Cám ơn em đã nấu cho anh một bữa ăn thật ngon.”
5. Nói ra những gì bạn muốn: Hầu hết chúng ta đều mong đợi người bạn đời phải đọc được ý nghĩ trong đầu mình. Nếu bạn mong chờ người kia phải là một chuyên gia tâm lý, bạn sẽ tự làm khổ mình mà thôi. Nếu bạn muốn yêu cầu của mình được đáp ứng, bạn phải bày tỏ nó theo cách mà chồng/vợ có thể nghe và thấu hiểu được.
Đôi lúc, không dễ dàng để nói lên điều mình muốn nhưng nếu đưa ra yêu cầu rõ ràng, bạn sẽ không bị hiểu lầm, giận dỗi hay giả định sai. Chẳng hạn, khi muốn cuộc sống của mình thêm phần lãng mạn, hay muốn chồng/vợ phụ giúp công việc nhà, bạn nên nhẹ nhàng nói ra những mong muốn đó với anh/cô ấy.
6. Lắng nghe mà không tỏ ra xét đoán hay phòng thủ: Bạn nên cởi mở hơn với những suy nghĩ và ý kiến của bạn đời, thay vì chỉ nhăm nhe xem ai đúng, ai sai.
Nếu bạn tỏ ra xét nét quá thường xuyên, phòng thủ và dựng một rào cản xung quanh mình, bạn sẽ không thể mở lòng chấp nhận những khả năng hay ý tưởng của vợ/chồng cũng như sẽ làm lụi tàn dần tình yêu giữa hai người.
7. Cởi mở tấm lòng để vợ/chồng có thể hiểu bạn: Nhiều người dù đã lập gia đình nhiều năm vẫn không cho bạn đời xâm nhập vào “bức tường chắn bảo vệ” của cá nhân mình. Nếu bạn muốn có một cuộc hôn nhân bền vững và ngày thêm đâm hoa kết trái, hãy thử cởi mở tấm lòng một phen xem sao nhé.
Chẳng hạn, khi vợ chồng mâu thuẫn với nhau, bạn có thể muốn tháo lui, im lặng, đóng chặt lòng vì sợ hay giận anh/cô ấy. Nhưng thay vì thế, bạn thử can đảm nói với anh/cô ấy những gì bạn đang suy nghĩ và tin là đúng, kết quả có thể khả quan hơn.
(Theo Tuổi Trẻ)
Đăng trong Cuộc sống - Life | Leave a Comment »










