hoangvinh

hoangvinh’s Blog

Archive for the ‘Ph.D’ Category

Nhân câu chuyện chức danh giáo sư đại họv

Đăng bởi Hoàng Vinh on Tháng Một 30, 2009

Nhân câu chuyện chức danh giáo sư đại học:

Bàn về vấn đề dịch thuật và đánh giá năng suất khoa học

Nguyễn Văn Tuấn

Câu chuyện bắt đầu từ bài báo do kí giả Hoàng Lê viết trên tờ báo điện tử VietNamNet ca ngợi thành tích vượt bực của Phan Thị Hà Dương: “Ở tuổi 26, ngay khi vừa bảo vệ xuất sắc luận án tiến sỹ, chị đứng đầu trong kỳ thi tuyển vào vị trí Phó Giáo sư của ĐH Paris 7. Đến nay, chị vẫn là người phụ nữ Việt trẻ nhất đạt thành tích này.” Thật ra cũng chẳng ai dám chắc chắn đây là phụ nữ Việt trẻ nhất có chức danh giáo sư, nhưng bài báo đã được nhiều báo giấy khác in lại với những cái tít ấn tượng. Chẳng hạn như Tiền Phong chạy cái tít “Người phụ nữ Việt trẻ nhất đoạt học hàm Phó giáo sư” (Tiền Phong, 21/11/2005) và nhiều lời ca ngợi nồng thắm …

Mới 26 tuổi mà được phong làm phó giáo sư tại một đại học có tầm cỡ, vượt qua hàng trăm ứng viên khác, thì quả là quá tài giỏi. Nhưng bản chất của người trí thức là hoài nghi. Có quả thật thông tin mà bài báo cung cấp là đúng với thực tế, hay lại là một ca ngợi vẽ chim thành phượng như bao nhiêu bài báo khác? Tiến sĩ Nguyễn Đình Đăng, hiện đang công tác ở Nhật, tò mò kiểm tra thì thấy bài báo của Hoàng Lê có nhiều thông tin không đúng với sự thật, như chức danh thật của Hà Dương là Maitre de Conferences, tương đương với chức danh Assistant Professor (theo hệ thống khoa bảng bên Mĩ) như trên trang nhà của bộ môn mà Hà Dương đang công tác ghi rõ ràng. Nguyễn Đình Đăng viết: “Là một người Việt Nam, tôi rất mừng vì dòng giống con rồng cháu tiên của chúng ta có nhiều người học cao và tài giỏi như TS Phan Thị Hà Dương, Ngô Bảo Châu, v.v. Nhưng chụp cho “maître de conférences” cái mũ “phó giáo sư” là một sự tùy tiện có lẽ chỉ nước Nam ta mới có. Việc đánh tráo khái niệm này có thể làm độc giả hiểu sai thực chất của một nhà khoa học trẻ, bảo vệ tiến sỹ tháng 1 năm 1999, và sau đó 8 tháng nhận biên chế maître de conférences (giảng viên). Cần lưu ý rằng khi nhận vị trí này cô chưa có một công trình nào được công bố trên tạp chí chuyên ngành vì bài báo đầu tiên của cô đăng tại tạp chí chuyên ngành là vào năm 2001 [..]. Sau khi bảo vệ tiến sỹ, cô đã đăng 8 công trình nghiên cứu trên tạp chí quốc tế trong vòng 4 năm (từ năm 2001 đến 2004). Đó là một thành tích đáng khen. Tuy nhiên, không biết ở Việt Nam ta thế nào, chứ ở châu Âu, Mỹ, Nhật Bản ngày nay không thể có chuyện một người mới 26 tuổi và chỉ với số lượng (chưa nói đến chất lượng) 8 bài báo được đăng (hoặc đang chờ được đăng) lại có thể trở thành phó giáo sư tại một đại học danh tiếng.”

Với giọng văn tương đối gay gắt, bài viết của Nguyễn Đình Đăng đã gây ra một cuộc tranh luận khá căng thẳng trên internet chung quanh những vấn đề được nêu lên. Một số người bày tỏ ý kiến ngầm ủng hộ nội dung bài báo của Hoàng Lê và quay sang tố cáo Nguyễn Đình Đăng đã từ chuyện bé xé thành chuyện to; một số thì xoay quanh những khó khăn trong việc chuyển ngữ các chức danh khoa bảng từ tiếng Pháp sang tiếng Anh và về lại tiếng Việt; một số khác thì chỉ ra đây cũng chỉ là một trong số hàng loạt những bài đánh đồng cá nhân quá trớn.

Những tranh luận này xảy ra ngay sau khi Nhà nước vừa ra quyết định công nhận chức danh giáo sư và phó giáo sư cho 339 nhà khoa học (VietNamNet 10/11/2004); và cũng như các lần trước, việc xét phong chức danh lần này cũng gây ra vài tranh luận, nghi ngờ. Có ý kiến cho rằng một số vị được tiến phong chức danh này chưa xứng đáng với khả năng thật trong hoạt động khoa học, và cũng có người đặt vấn đề tiêu chuẩn được được công nhận chức danh giáo sư. Bàn về vấn đề tiêu chuẩn, Giáo sư Đỗ Trần Cát, Tổng thư kí Hội đồng Chức danh Giáo sư Nhà nước cho biết Việt Nam phải hạ tiêu chuẩn thấp xuống mới có giáo sư! Thành ra, người viết bài này cảm thấy câu chuyện chung quanh bài báo của Hoàng Lê và Nguyễn Đình Đăng còn đặt ra một số vấn đề khá thời sự ở nước ta liên quan đến chức danh khoa bảng và các tiêu chuẩn đánh giá công trình nghiên cứu khoa học cũng như đề bạt nhà khoa học.

Thứ nhất là sự khác biệt của hệ thống chức danh khoa bảng giữa Mĩ, Pháp và Việt Nam. Ở Mĩ, thông thường, sau khi sinh viên tốt nghiệp tiến sĩ và sau ít nhất là 2 năm nghiên cứu hậu tiến sĩ, họ có thể xin được đề bạt vào ngạch giáo sư. Có ba bậc giáo sư xếp theo thứ tự thấp nhất đến cao nhất: Assistant Professor, Associate Professor, và Professor. Còn ở Pháp, cán bộ giảng dạy hay nghiên cứu trong các trường đại học chỉ có 2 bậc: Maître de ConférencesProfesseur de Université. Ở Việt Nam, hệ thống tuy phức tạp hơn hệ thống của Mĩ và Pháp, nhưng nói chung cũng có thể chia thành 3 bậc: giảng viên, phó giáo sư giáo sư. Nếu cần nói thêm, tôi muốn nói rằng hệ thống ở Anh và Úc có đến 4 chức vụ chính: Lecturer, Senior Lecturer, Associate Professor, và Professor.

Đến đây thì có vấn đề tương đương giữa các chức vụ trên đây. (Ở đây, tôi chỉ nói “tương đương” trên danh xưng mà thôi, chứ chưa nói đến tương đương về chức vụ và trách nhiệm). Nếu so sánh giữa Việt Nam và Mĩ thì chúng ta có thể phân cấp khá dễ dàng: Giảng viên = Assistant Professor, Phó giáo sư = Associate Professor, và Giáo sư = Professor.

Nhưng nếu so giữa hệ thống của Pháp với Việt Nam (hay Mĩ) thì sao? Vì Pháp chỉ có 2 bậc mà Việt Nam và Mĩ có đến 3 bậc, thành ra có thể lí giải rằng Maître de Conférences của Pháp có thể tương đương với Assistant Professor hay Associate Professor. Và, cũng dùng theo cách phân cấp đó, người ta vẫn có thể nói một Professeur của Pháp có thể tương đương với Associate Professor hay Professor của Mĩ!

Ở Anh và Úc, các trường đại học vẫn khẳng định rằng chức Lecturer của họ tương đương với Assistant Professor của Mĩ và Maître de Conférences của Pháp; còn Senior Lecturer của Úc thì tương đương với Associate Professor của Mĩ. Thế thì sự tương đương giữa hai chức danh Associate Professor / Professor của Anh và Associate Professor / Professor của Mĩ thì sao? Không có câu trả lời chính thức, bởi vì còn tùy thuộc vào … lí lịch khoa học.

Thứ hai là những khó khăn về dịch thuật. Ngày nay, chúng ta đều nhất trí dịch chữ Professor (hay tiếng Pháp, Professeur) là Giáo sư. Chúng ta cũng nhất trí rằng Associate Professor dịch là Phó giáo sư. Thực ra, đây cũng chỉ là một cách dịch tương đối mà thôi, chứ — như tôi đã từng phát biểu trước đây — tuy mang danh là “phó” nhưng trong thực tế những người mang chức danh Associate Professor chẳng làm phó cho giáo sư nào cả.

Nhưng khó khăn nhất vẫn là chức danh Assistant Professor (Mĩ) nên dịch sang tiếng Việt là gì ? Có người đề nghị Assistant Professor nên dịch là trợ lí giáo sư, nhưng tôi e rằng cách dịch này không mấy chính xác, bởi hai lẽ: (i) trợ lí giáo sư là một chức vụ ngoài khoa bảng tương đương với tiếng Anh Professorial Assistant; và (ii) tuy mang danh là Assistant (phụ tá), nhưng trong thực tế những người mang chức danh Assistant Professor chẳng phụ tá cho giáo sư nào cả, mà là những nhà nghiên cứu độc lập, hoàn toàn có tư cách chủ trì các công trình nghiên cứu. Như nói trên, Assistant Professor là một chức vụ khoa bảng thấp nhất trong ba bậc giáo sư, và những người mang chức danh này là những nhà khoa bảng đang trong giai đoạn củng cố địa vị chuyên môn để chuyển tiếp lên một cấp bậc cao hơn. Do đó, có lẽ Assistant Professor nên dịch là “Giáo sư dự khuyết”. Thú thật, ngay cả tôi cũng không cảm thấy hài lòng với cụm từ này (cũng như chưa hài lòng với chức danh Phó giáo sư, nhưng thiết nghĩ tất cả chuyển ngữ về chức danh chỉ là … tương đối.

Càng khó hơn nữa là chức danh Maitre de Conferences (Pháp). Nếu xét trên danh xưng thì chức danh này không có chữ Professeur và do đó không thể dịch là giáo sư được. Nhưng xét trên thứ bậc đẳng cấp thì chức vụ này chỉ thấp hơn Professeur một bậc (bởi vì đại học Pháp chỉ có 2 bậc “giáo sư”), vậy có nên dịch Maitre de ConferencesPhó giáo sư không ? Như đã đề cập trên, chức danh Maitre de Conferences tương đương với Assistant Professor, mà cũng có thể tương đương với Associate Professor, cho nên cả giảng viênPhó giáo sư đều có thể thích hợp ! Như vậy, vấn đề dịch các chức danh khoa bảng có khi cần phải xét đến chức vụ và thành tích khoa học của nhà khoa học.

Những khó khăn trên dẫn đến vấn đề thứ ba là tiêu chuẩn để đánh giá khả năng của một nhà khoa học và chất lượng công trình nghiên cứu khoa học. Các chức danh và chức vụ khoa bảng như giảng viên và giáo sư thường thường do hội đồng khoa bảng của trường đại học phê chuẩn và bổ nhiệm. Hội đồng khoa bảng dựa vào 4 tiêu chuẩn chính đề làm cơ sở cho việc phê chuẩn và bổ nhiệm : thành tích hoạt động khoa học, giảng dạy và cống hiến vào việc quản trị phân khoa đại học, khả năng thu hút tài trợ cho nghiên cứu, và hoạt động cộng đồng. Trong 4 tiêu chuẩn này, thành tích hoạt động khoa học được xem là tiêu chuẩn quan trọng nhất.

Thành tích hoạt động khoa học được đánh giá bằng các tiêu chí như số lượng và chất lượng bài báo khoa học đã công bố, số lượng bằng phát minh (patents of invention), uy danh và sự công nhận của giới chuyên môn trong ngành. Không có trường nào có qui định cụ thể ứng viên phải có bao nhiêu bài báo khoa học để được đề bạt, nhưng thông thường, những con số được “hiểu ngầm” là giáo sư dự khuyết phải có từ 5 bài báo trở lên, phó giáo sư thì ít nhất là 20, và giáo sư thì ít nhất là 50.

Nhưng số lượng công trình không nói lên được chất lượng của công trình nghiên cứu. Hội đồng khoa bảng thường dựa vào hệ số ảnh hưởng (còn gọi là impact factor) của tập san mà bài báo khoa học được đăng. Hệ số này thực chất là số lần trích dẫn (citation), tính trung bình, cho những bài báo đã đăng trên tập san trong vòng 2 năm trước. Chẳng hạn như năm 2003 và 2004 tập san đăng 200 bài báo khoa học, và năm 2005 có 400 lần trích dẫn các bài báo trong hai năm qua, thì hệ số ảnh hưởng được ước tính là 400/200 = 2. Nói chung, tập san nào có hệ số ảnh hưởng cao hơn 5 được xem là có uy tín cao.

Tuy nhiên, hệ số ảnh hưởng của tập san cũng tùy thuộc vào bộ môn khoa học (chẳng hạn như các tập san thuộc bộ môn khoa học thực nghiệm thường có hệ số ảnh hưởng cao hơn các tập san trong các ngành khoa học tự nhiên và toán học). Vả lại, hệ số ảnh hưởng chỉ phản ánh uy tín của tập san chứ không hẳn phản ánh ảnh hưởng của bài báo trên tập san. Trong lịch sử khoa học, không ít công trình có ảnh hưởng lớn (hiểu theo nghĩa được nhiều người trích dẫn và tham khảo) nhưng chỉ xuất hiện trên các tập san với hệ số ảnh hưởng thấp, hay thậm chí chưa bao giờ công bố chính thức trên một tập san ! Cho nên một cách đánh giá chất lượng khác là tính số lần các nhà khoa học khác trích dẫn bài báo (citations) mà nhà khoa học đã công bố. Số lần trích dẫn nhiều cũng có nghĩa là công trình nghiên cứu có ảnh hưởng lớn trong chuyên ngành. Ngược lại, nếu nhà khoa học dù có hàng trăm bài báo, nhưng không ai trích dẫn thì những bài báo này cũng chỉ là một đống rác chữ nghĩa vô dụng.

Bài học

Qua những tranh luận chung quanh bài báo về Phan Thị Hà Dương trên VietNamNet, chúng ta cũng có thể rút ra một vài kinh nghiệm về việc đánh giá độ tin cậy và tính chính xác của thông tin. Một bài học hiển nhiên cho những người viết báo là cần phải kiểm tra thông tin cẩn thận để tránh nhầm lẫn. Internet là một phương tiện quan trọng trong việc kiểm tra thông tin. Với hệ thống truy tìm thông tin của Google, việc rà soát chức danh và chức vụ cũng như quá trình hoạt động nghiên cứu của một nhà khoa học trong các đại học Tây phương thật là dễ dàng. Có thể nói bất cứ đại học nào ở các nước Tây phương cũng đều có một trang web, và trong trang web đó có danh sách giáo sư với những chức vụ khá rõ ràng. Muốn biết chuyên môn của một giáo sư là gì, hay bao nhiêu công trình khoa học gắn liền với tên của vị giáo sư cũng chỉ cần năm ba phút là cũng có được.

Tuy nhiên không phải thông tin nào trên internet, nhất là các trang web mang tính phi chính thức (unofficial), đều có độ chính xác cao. Rất nhiều thông tin trong các trang web như Wipipedia, tuy mang danh là từ điển bách khoa cho đại chúng, chưa nhiều sai sót nghiêm trọng. Thành ra, không bao giờ phụ thuộc vào thông tin của một trang web, cho dù trang web đó là của trường đại học ! Nếu cần thiết, nhà báo vẫn có thể liên lạc với những chuyên gia có thẩm quyền để rà soát thông tin và kiểm tra lại các thông tin trên internet.

Người Tây phương có câu “Đừng bao giờ đánh giá cuốn sách qua bìa sách” (never judge a book by its cover), cũng giông giống như chúng ta hay nói “không nên xem mặt đặt tên”. Dùng cách nói đó, thiết tưởng tôi cũng có thể nói không nên đánh giá một nhà khoa học qua trường đại học hay viện nghiên cứu mà nhà khoa học công tác hay tốt nghiệp. Trong thực tế, không ít giáo sư trong các đại học nổi tiếng ở Tây phương, kể cả giáo sư gốc Việt, cũng rất xoàng xĩnh, chứ chẳng phải là giáo sư hạng “đẳng cấp quốc tế” gì cả.

Ở Việt Nam ta, tiêu chuẩn để tiến phong giáo sư đang là một vấn đề thời sự. Có ý kiến cho rằng tiêu chuẩn còn quá thấp, nhưng cũng có ý kiến tiêu chuẩn quá cao. Trong một lần trả lời phỏng vấn đăng trên VietNamNet ngày 11/3/2004 (http://vietnamnet.vn/giaoduc/vande/2004/03/54931), Thư kí hội đồng chức danh giáo sư nhà nước (Giáo sư Đỗ Trần Cát) cho biết : « Mỗi ứng viên cho chức danh giáo sư phải có 2 điểm – tương đương với hai công trình – đăng trong các tạp chí uy tín », và mỗi ngành chỉ có hai « tạp chí uy tín » ở trong nước, hiểu theo nghĩa « nếu đăng ở đấy thì nó khó, chất lượng cao hơn. Còn việc chọn đâu là hai tạp chí uy tín của mỗi ngành thì do hội đồng ngành đề xuất, hội đồng thường trực sẽ thông qua. Còn các bài báo đăng ở tạp chí khoa học ngoài nước tất nhiên là không hạn chế rồi ». Nói cách khác, theo qui định này, để đề bạt chức vụ giáo sư, ứng viên chỉ cần có 2 bài báo khoa học ! Tôi nghĩ những tiêu chuẩn này chẳng những quá thấp, mà còn chưa đủ vì, như đã nói trên, con số bài báo không thể phản ánh chất lượng nghiên cứu.

Bất cứ thời nào, bất cứ ở đâu, bất cứ ngành nào đều có những rác rưởi được đánh bóng và xuất hiện dưới danh nghĩa “công trình nghiên cứu khoa học”. Ngày nay, trên thế giới có khoảng 108.000 tập san gọi là “khoa học”, và con số vẫn còn tăng hàng năm. Thành ra, một công trình nghiên cứu dù cho có chất lượng thấp cỡ nào đi nữa, và nếu tác giả kiên trì theo đuổi, thì nó cũng được in trong một tập san nào đó. Herbert Simon (giải Nobel kinh tế học) từng nói một câu chí lí: Sự dồi dào thông tin tạo nên tình trạng thiếu tập trung (“A wealth of information creates a poverty of attention”). Theo phân tích của Viện thông tin khoa học (Institute of Scientific Information, ISI) có khoảng 55% các bài báo khoa học trên thế giới không bao giờ được ai trích dẫn, không bao giờ được ai (kể các chính tác giả) tham khảo sau 5 năm công bố ! Ngay cả trong số được trích dẫn, cũng chỉ rất … lèo tèo. Chỉ có trên dưới 1% bài báo khoa học được trích dẫn hơn 6 lần mà thôi (trong vòng 5 năm). Điều này có nghĩa là không không thể nào đánh giá khả năng của nhà khoa học qua con số lượng bài báo, và càng không đánh giá công trình khoa học chỉ vì công trình đã được công bố, mà phải xét đến số lần trích dẫn.

Xã hội có quyền đặt kì vọng cao vào những người mang chức danh “giáo sư”, bởi vì họ là một phần của bộ mặt của khoa học Việt Nam. Người dân muốn thấy những người mang chức danh giáo sư phải có khả năng tương xứng với đồng nghiệp quốc tế. Trong chiều hướng hội nhập quốc tế có lẽ đã đến lúc chúng ta xem xét lại các tiêu chuẩn chất lượng trong việc xem xét đề bạt giáo sư ở nước ta. Đành rằng cũng cần phải xem xét đến các điều kiện mang tính địa phương trong khi đề bạt giáo sư, nhưng các hoạt động khoa học thì lại mang tính quốc tế, và không có lí do gì các thước đo khách quan mà đa số nước trên thế giới đang sử dụng không áp dụng cho nước ta.


Đăng trong Ph.D | Leave a Comment »

Bảo vệ luận văn Cao học – Rapports et soutenances de stage

Đăng bởi Hoàng Vinh on Tháng Năm 24, 2007

Rapports et soutenances de stage

L. Philippe

A ne pas oublier

  • Page de garde :
    • Titre du rapport
    • Lieu de stage
    • Type de stage Licence 3 ou Master 2
    • Encadrants du stage
    • Dates du stage
  • Table de matières,
  • Remerciements,
  • Introduction :
    • Contexte du stage : formation, lieu
    • Sujet du stage
    • Structure du document
  • Conclusion : technique/personnelle
  • Bibliographie/Webographie (dates des liens)
  • Résumés : français/anglais
  • Mots clefs : français/anglais
  • Glossaire

Recommandations pour le rapport

  • Présentation du stage/lieu/entreprise :
    • environ 4 à 5 pages (10%),
    • présentation avec focus, de l’entreprise en générale au service dans lequel le stage est réalisé. Justification du votre stage dans ce contexte.
    • fil conducteur.
  • Eviter les acronymes, jargon, trop technique
  • Décrire ce que vous avez appris : logiciels, méthodes, environnements, etc. Vous devez faire le point sur vos connaissances avant de commencer et ce que vous avez appris depuis.
  • Donner la longueur et la profondeur de votre travail (technique) : vous devez décrire l’ensemble de votre travail pour en donner une vue complète mais il n’est pas forcément nécessaire de développer tout ce que vous avez fait. Par contre, pour montrer la difficulté technique de ce que vous avez réalisé, il peut être utile d’expliquer un peu plus en détail une partie de ce travail.
  • les images du rapport doivent servir à illustrer votre discours, il faut les référencer dans le texte et les commenter, (idem pour les parties de code). De même, il faut éviter d’inclure, les unes après les autres, les saisies d’écran réalisées sans commentaire ou texte les accompagnant et les expliquant. Ainsi, l’utilisation d’une image doit être justifiée par rapport à ce que vous souhaitez dire.
  • Utiliser des exemples pour illustrer votre travail et le faire mieux comprendre.
  • Conclusion : il est recommandé de faire une conclusion technique et une conclusion personnelle
    • La conclusion technique synthétise en quelques lignes ce que vous avez réalisé. Elle donne l’état du travail : s’il est finalisé, s’il est utilisé et comment, ce qui reste éventuellement à faire, les retours des utilisateurs, etc. Elle donne des perspectives au travail réalisé : ce qui peut être étendu, ce qui peut être amélioré, l’intégration dans un ensemble plus complet, etc. Elle met en rapport/compare le travail réalisé avec les enseignements suivis dans le diplôme et peut faire des propositions ou mettre en évidence (de manière diplomatique !) des manques dans les modules du diplôme.
    • La conclusion personnelle décrit le déroulement de votre stage d’un point de vue humain : comment vous avez appréhendé le stage, ce qu’il vous a apporté, les enseignements humains que nous en tirés. Elle peut comparer le contexte humain du diplôme et de l’entreprise et mettre en évidence votre attirance pour l’un ou l’autre des domaines de l’informatique.
  • une documentation très complète (mais généraliste) sur la rédaction de rapports de stages :
  • Download : redigera.pdf

Recommandations pour la soutenance

  • Comprise en 20 à 30 minutes,
  • REPETER votre soutenance, seul puis avec un public,
  • Eviter les diapos trop claire/foncées,
  • Eviter trop d’animation mais aussi des diapos trop austères,
  • Des images mais aussi du texte,
  • Donner le plan de la soutenance :
  • Plan de la soutenance :
    • un auditeur n’a pas lu le rapport
    • présentation entreprise
    • présentation du sujet
    • réalisation
    • conclusion technique/personnelle
  • Bien préparer les démos ( 10min), ou les montrer en saisies d’écran.
  • Du dynamisme et de la joie de vivre !

Đăng trong Ph.D | Leave a Comment »

Cuộc đời hoạt động của khoa học gia tại trường Đại học

Đăng bởi Hoàng Vinh on Tháng Năm 16, 2007

Cuộc đời hoạt động của khoa học gia tại trường Đại học

Bài từ Tủ sách Khoa học VLOS.

Khoa học gia sinh hoạt, hoặc ở trong, hoặc ở ngoài Đại học. Ở ngoài Đại học, họ phục vụ các xí nghiệp hay trung tâm khảo cứu chuyên biệt của chính phủ. Ở trong Đại học, họ khảo cứu nơi các phòng thí nghiệm và giảng dạy: vậy họ là một khảo cứu gia kiêm nhiệm thêm vai trò của một nhà giáo. Chính vì vậy có sự hoà lẫn của hai nhiệm vụ đó, nên cuộc đời của khoa học gia nơi Đại học có một sắc thái đặc biệt trong cộng đồng khảo cứu.

Cuộc đời của họ có 5 giai đoạn rõ rệt: Sinh viên Cử nhân, Sinh viên hậu cử nhân, Giảng sư, Giáo sư và Trưởng ban khoa học.

Mỗi giai đoạn là cả một thời gian thử thách cam go, có tính chất đào thải liên tục. Nó kéo dài hay thu ngắn tùy theo từng người và tuỳ nơi hoàn cảnh của mỗi quốc gia.

 

Giai đoạn TRỨNG NƯỚC

Một khoa học gia trung bình bắt đầu giai đoạn cử nhân ở lứa tuổi đôi mươi, một giai đoạn sơ khởi, trứng nước kéo dài 4 năm. Sinh viên học và đọc suốt thời kỳ đó. May mắn lắm họ mới được chỉ dẫn về khảo cứu. Họ học lý thuyết và thực hành tại trường và tại các cơ xưởng. Học đọc đủ các loại tài liệu từ thứ phổ thông và đại học đến thứ chuyên khoa khảo cứu. Mức độ đọc sách gia tăng từ năm đầu đến năm cuối, tỷ lệ nghịch với số lượng bài học từ chương. Mỗi sinh viên khoa học muốn đi xa phải thông thạo ít nhất hai ngoại ngữ khoa học, vì khoa học không có biên cương. Nhưng thu thập kiến thức chỉ là phần phụ. Tự đào luyện mình thành con người mới là điều chính. Sau năm dự bị, Sinh viên bắt đầu tập suy nghĩ, tập đắn đo, tập ngờ vực, tập ưu tư trong mọi vấn đề chuyên môn cũng như ở ngoài đời. Họ tập bình tĩnh trước mọi khích động nhất thời. Họ tập can đảm trước mọi khó nguy. Trong sinh hoạt tập thể, sinh viên tập tổ chức, giao thiệp, tập ăn nói hoạt bát trước công chúng, tập thảo luận xây dựng, tập diễn tả tư tưởng bằng bút mực. Có như vậy mới đầy đủ khả năng để đi xa trên con đường khảo cứu về sau. Giai đoạn Cử nhân chỉ là một lớp sơn lót trên một mảnh ván khô mới bào nhẵn. Bao nhiêu sơn đề rút hết vào bên trong, cho nên sau 4 năm, sinh viên nhìn nhau mà không thấy màu sắc nơi nhau. Đôi khi họ đâm ra lo sợ, vì thấy mình chẳng biết gì. Cái đó cũng là một điều tốt, vì nó khởi đầu cho một đức tính cần thiết trong tâm hồn của khoa học gia: ĐỨC KHIÊM NHƯỢNG.

Giai đoạn ẤU THƠ

Sau khi đã đỗ Cử nhân xong, sinh viên bước vào giai đoạn ấu thơ của cuộc đời khảo cứu, một giai đoạn thử thách ghê gớm nhất. Giai đoạn HẬU CỬ NHÂN này có hoạt động chính là khảo cứu. Chương trình làm việc tuỳ thuộc mỗi cá nhân, mỗi phòng thí nghiệm, nhưng mục đích tối hậu vẫn là hoàn thành một luận án tiến sĩ xuất bản những kết quả khảo cứu giới hạn tìm thấy bên lề của việc chính. Sinh viên khảo cứu nếm đủ thứ cực hình về thể xác lẫn tâm hồn suốt thời kỳ đó. Trước nhất là không nghĩ đến việc kiếm tiền được, vì hơi kẽm thường làm hư con người. Sau nữa, không mấy ai dám nghĩ đến tình gia đình, vì tình yêu làm yếu người trong lúc gian nan. Một chiếc áo choàng trắng, một khuôn mặt đăm chiêu, một cặp mắt xa xăm, một mái tóc rối… đó là hình ảnh quen thuộc nhất của một khảo cứu tập sự. Bao nhiêu mồ hôi, nước mắt, bao nhiêu lo lắng, dằng co, bao nhiêu trì chí và nhẫn nại… tất cả đều dốc vào công việc tìm tòi một vài chân lý bé nhỏ. Những người thẳng trớn làm việc một mạch thì dễ tới đích. Những ai bỏ lững công việc dăm ba tháng thì chẳng bao giờ tiếp tục được nữa. Sự đào thải vì đó có tỷ lệ rất cao. Kinh nghiệm cho thấy cứ 10 sinh viên đỗ Cử nhân thì có 1 qua được giai đoạn khảo cứu, còn bao nhiêu thì lạc lõng và ngã gục trong sa mạc mênh mông này. Kẻ thành công không phải bao giờ cũng là người thông minh tốt chúng, mà thường là người bền chí, dày công.

Giai đoạn khảo cứu đối với khoa học gia muốn phục vụ Đại học còn là khoảng thời gian tập tành giảng huấn. Thoạt đầu, sinh viên được đề cử phụ giảng vài nhóm nhỏ, kèm một bài toán chỉ bảo một thí nghiệm giản dị… Về sau, tuỳ khả năng, họ được giao phó giảng dạy đôi giờ lý thuyết thuộc chuyên môn của họ. Tất nhiên GS điều khiển họ khảo cứu phải chịu trách nhiệm về giá trị của những bài giảng này. Như thế, Sinh viên đã bước vào một lĩnh vực mới: lĩnh vực sư phạm ở bậc Đại học. Tội nghiệp cho họ: khi sắp choàng trên vai chiếc áo tiến sĩ, họ đã phải chăm nom đàn em nheo nhóc rồi. Họ mang hình ảnh của người anh hay người chị cả trong gia đình đông con và bẩn chật.

Giai đoạn VÀO ĐỜI

Luận án tiến sĩ khoa học trình xong, một hạt bụi góp vào sa mạc của kiến thức, sinh viên thực sự vào đời, cuộc đời của khảo cứu gia khoa học. Tuy vậy, không phải khảo cứu gia nào cũng có duyên số với Đại học. Trước nhất, có khảo cứu gia, vì hoàn cảnh riêng, rút ra xí nghiệp, nơi họ có lương bổng hậu. Một số khác tự biết khả năng sư phạm của mình, bèn đầu quên vào các học viện khảo cứu rất chuyên môn. Được bổ nhiệm giảng sư, một số ít người tỏ khả năng và tâm đức đặc biệt của mình trong thời gian khảo cứu, và nhất là tập tành giảng huấn. Đó là một vinh dự lớn, kèm theo một sự hy sinh tương xứng. Thực vậy, làm nhà giáo ở Đại học, khoa học gia không có đời sống vật chất sung mãn và nhàn hạ được. Họ có quyền chi dụng những ngân quĩ lớn lao cho công tác khảo cứu, nhưng không mấy khi may nổi một bộ lễ phục. Nhiều Giảng sư đã phải rời Đại học giữa chừng xuân, vì không chịu nổi sự thanh bần trường kỳ như vậy.

Còn những người ở lại thì sao? Đối với họ, sự say mê công việc là trên tất cả. Ba mươi tuổi, nửa đời người và một trách nhiệm ngày càng nặng nhọc. Công việc chính của họ giờ đây là nhà nông gieo mạ, cấy lúa: soạn bài giảng, lo hội thảo, dìu dắt sinh viên khảo cứu và săn sóc sinh viên mới nhập trường. Giảng sư không những khảo cứu độc lập, mà còn tìm cách tham gia vào công cuộc khảo cứu rộng lớn hơn, chúng đòi hỏi từng nhóm người đông đảo. Đó là lối khảo cứu tập thể. Ích lợi của nó đối với giảng sư là tập dần đời sống lãnh đạo của giáo sư đại học về sau. Thời gian này cũng là thời gian tập phác hoạ những kế hoạch ngắn hạn trong lãnh vực tổ chức khảo cứu hay giáo dục chuyên môn. Phần khảo cứu của cá nhân tăng gia về phẩm cũng như về lượng, nhờ kinh nghiệm sẵn có từ trước. Cuộc đời khảo cứu gia, lúc này là lúc sáng tạo phong phú nhất.

Giai đoạn VẠCH LỐI ĐI MỚI

5 năm, 10 năm hay 15 năm trôi qua trong cuộc đời giảng sư… Nếu có sự cạnh tranh ráo riết, nếu không có khảo cứu lỗi lạc, tư tưởng độc đáo, hoạt động rộng lớn, thì giảng sư khó thành giáo sư. Tỷ lệ thành đạt ở đây không phỏng đoán nổi, thường là 1/10 hay 1/20. Giáo sư đại học không phải là một người khảo cứu kinh nghiệm hay một nhà giáo lành nghề. Đó là một người biết vạch ra một con đường mới cho đàn em.

Bài giảng giờ đây biến thành những diễn thuyết giá trị, chứa đựng một hệ thống tư tưởng qui mô, nêu rõ một triết lý rõ về vũ trụ và nhân sinh. Chúng có rõ mục đích tổng hợp những điều đã biết và vạch ra cho đại chúng một phòng thí nghiệm chuyên biệt, giáo sư tiếp tục hội thảo với đồng nghiệp, với môn đệ trong trường phái của mình và ngay cả với sinh viên các cấp. Những đàn em đó, hơn bao giờ hết, cần nơi giáo sư một niềm tin ở tương lai, một hy vọng không bao giờ tắt trong những lúc khó khăn, và một tấm gương sáng để hãnh diện với đồng bạn. Thời gian của cuộc đời giáo sư giờ đây dành cho các hội nghị quốc nội và quốc tế mà giáo sư góp phần tổ chức để đẩy mạnh phong trào quần chúng hỗ trợ cho khoa học nói chung và cho bộ môn mình nói riêng. Nhà khoa học ở cuối thể kỷ XX không thể sống ẩn dật trong phòng thí nghiệm mãi được.

Trên phương diện khảo cứu giáo sư vẫn phải tiếp tục làm gương tiên phong. Không có giáo sư khoa học nào có quyền chểnh mảng sứ mạng cao quí đó. Thế nhưng đề tài khảo cứu giờ đây là những vấn đề nan giải hay đòi hỏi nhiều năng lực nhất. Thành thử, tuy kinh nghiệm có thừa, tuy óc sáng tạo rất phong phú, nhưng đường khảo cứu của Giáo sư đôi khi hao hao giống đường biểu diễn của Sinh viên khảo cứu. Sự giống nhau đó che đậy hai hoàn cảnh hoàn toàn khác nhau. Sinh viên khảo cứu mất nhiều năng lực vì dò dẫm trong một địa hạt dễ, nhưng với kinh nghiệm thiếu thốn. Giáo sư cũng mất nhiều năng lực vì phải giải đáp những vấn đề khó hơn. Hình 5 biểu diễn rõ ràng lối đi của mỗi người. Trong giai đoạn phấn đấu của cuộc đời đó, khoa học gia mới nhận ra rằng thực mình chẳng biết điều gì, hay có biết đi nữa, thì cũng bằng hạt cát trong sa mạc. Thế mà oái ăm thay, người đời lại tặng cho họ một cái tên rất kêu là NHÀ BÁC HỌC.

 

Giai đoạn ĐIỀU HỢP CAO CẤP

Một ngành khoa học có nhiều giáo sư phụ trách có bộ môn riêng rẽ. Ví dụ như ngành sinh học có các bộ môn như thực vật học, động vật học, sinh lý học, sinh hoá học… Giáo sư nào lỗi lạc nhất các ngành sẽ được bầu ra làm trưởng của ngành, gọi là TRƯỞNG BAN, tức là vị lãnh tụ của ngành khoa học trong một giai đoạn nào đó, trong một đại học nhất định. Ở tuổi 50 mà được tín nhiệm như vậy, thực là một vinh dự to tát. Thêm một trách nhiệm mới, và con đường cứ thế dài mãi ra. Trưởng ban không chỉ lo bộ môn của mình say mê. Trưởng ban phải lo cho ngành, từ chi tiết đến đại cương, từ kế hoạch dài hạn đến sinh hoạt hàng ngày. Bổn phận của vị đó là sao cho bộ máy khảo cứu chạy điều hoà, trong nước cũng như với các cơ quan liên hệ ngoài nước. Thời gian trong ngày thường dành cho các cuộc hội họp liên tục với các cộng sự viên, các buổi tiệc để gặp gỡ các nhà tai mắt, và các cuộc du thuyết khắp nơi. Không mấy khi được cái sung sướng của ngày xưa ngồi yên để khảo cứu, để đọc tài liệu mình ưa thích hoặc để soạn một bài giảng đắc ý. Trái lại, có thì giờ rỗi thì vùi đầu vào những bộ môn mới lạ: lịch sử, kinh tế, luật pháp, kỹ nghệ, thương mãi, hầu tìm những liên hệ của ngành với các cơ quan lập pháp hay hành pháp, với các xí nghiệp hay trung tâm kinh doanh. Mục đích chung là để bênh vực các kế hoạch khảo cứu và tìm chỗ ứng dụng của chúng trong đời sống quốc gia. Ngoài ra phải thân thích với báo chí, với các nhà xuất bản, với các cơ quan thông tin để quảng bá ý kiến, được phê bình và được hỗ trợ tinh thần.

Hậu quả của bấy nhiêu hoạt động giao tế là xa dần phòng thí nghiệm của mình, một cuộc giã biệt ray rứt nhứt và cũng là thử thách cuối cùng về lòng yêu khoa học. Có nhiều người vì quá yêu bộ môn khảo cứu còn đang dang dở đã từ chối nhiệm vụ trưởng ban. Phải can đảm lắm mới chấp nhận trách nhiệm đó, với bao nhiêu khắc khoải trong lòng…

May lắm, đến tuổi về hưu, khoa học gia tìm được người san sẻ phận sự Trưởng ban để về với chuyên môn cũ. Rủi ro, họ sẽ bị giao phó thêm trách nhiệm lớn hơn, như hàn lâm viện, uỷ viên trong hiệp hội quốc tế… Giả sử như được về phòng thí nghiệm cũ, mái tranh xưa sẽ đón khảo cứu gia lão thành như thế nào? Với mối tình nồng nhiệt nhất, phần thưởng cuối cùng của nhà khoa học. Thời gian giờ đây giới hạn thật, vì chiến sĩ còn đủ giờ giấc hồi tưởng lại cuộc đời phấn đấu oanh liệt của mình và nhìn đàn con vươn lên như cây rừng từ dưới đáy biển sương. Vai trò cố vấn thích hợp với lứa tuổi xế chiều này nhất, nhưng vị thầy cũ giờ đây lại thích thú khi cắp sách trở lại Đại học để theo dõi và học thêm những kiến thức mới của học trò mình. Còn gì quí hơn khi người chiến sĩ già biết rõ được sở trường và sở đoản của mình trên đường tìm đến chân lý?

Bùn trước Sen sau

Khoa học gia Việt Nam mấy ai đã có diễm phúc sống một cuộc đời lý tưởng như vậy trong Đại học? Suốt cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do và no ấm cho xứ sở, cũng như dành uy tín cho khoa học trong lòng nhân dân, họ tự hy sinh thân xác gần hết. Qua những xáo trộn liên tiếp, một số tan tác như cành mai trước gió. Hoặc vì bị lôi cuốn vào phong bam, bão táp, hoặc ngã lòng trước hoàn cảnh khó khăn, hoặc thoái hoá và cám dỗ vật chất, hoặc bị tiêu mòn ngay trong thời kỳ trứng nước. Nhưng lạc quan nhất là hễ có người này ngã, thì có kẻ khác tiến lên. Nhờ vậy ánh đuốc khoa học vẫn sẵn sàng hy sinh thêm nữa. Họ quan niệm giản dị rằng nơi Đại học phôi thai của Việt Nam, còn cần nhiều người làm bùn để nuôi lửa sen thơm ngát của ngày mai tươi sáng.

GS. Trần Kim Thạch (Bài viết trên Tập san Bách khoa Thời đại ngày 01/04/1969)

Đăng trong Ph.D | Leave a Comment »