hoangvinh

hoangvinh’s Blog

Archive for the ‘Văn học’ Category

CHUNG QUANH SỰ KIỆN CÁC TÁC PHẨM VĂN CHƯƠNG XUẤT BẢN DƯỚI HÌNH THỨC PHOTOCOPY Ở SÀI GÒN

Đăng bởi Hoàng Vinh on Tháng Năm 7, 2007

Lời toà soạn: Trong văn học Việt Nam đương đại, có những tác phẩm không được chính thức xuất bản tại Việt Nam, mà chỉ đến với độc giả như những văn bản được photocopy và chuyền tay; thậm chí có những nhà thơ / nhà văn chỉ hiện hữu bằng phương tiện ấy. Để tìm hiểu những góc nhìn khác nhau của văn giới về sự kiện này, nhà thơ Trần Tiến Dũng tổ chức một cuộc phỏng vấn rộng rãi bằng cách gửi một số câu hỏi đến nhiều người cầm bút ở trong nước và ở hải ngoại. Tiền Vệ xin đăng tải loạt bài này theo thứ tự hồi âm của những người tham dự cuộc phỏng vấn.

 

Trần Tiến Dũng (TTD): Thời gian vừa qua, ở Sài Gòn xuất hiện hình thức xuất bản bằng cách photocopy và phân phối một cách không chính thức đến những người yêu văn nghệ. Ông/bà nghĩ sao về hình thức xuất bản ngoài luồng này? Tại sao có hình thức xuất bản ấy? Và liệu hình thức xuất bản ấy có ảnh hưởng gì đến diện mạo nền văn học Việt Nam đương đại không?

Nguyễn Ðăng Thường (NĐT): Có thể coi như là sách samizdat của thời điện tử. Samizdat, tiếng Nga, có nghĩa là “tự xuất bản”. Nếu như chúng không ít tốn kém, không ít nguy hiểm hơn, thì chắc cũng đỡ nhọc nhằn hơn in thạch (xu xoa), đánh máy, quay ronéo. Có ảnh hưởng gì hay không thì tôi không thể trả lời. Tôi ở hải ngoại mấy chục năm chưa nhục quy bái phở lần nào. Tôi cũng không theo dõi tình hình sách vở báo chí trong nước. Yves Bonnefoy nói thơ có thể cứu vãn thế giới. Tôi nói thế giới, nhất là xã hội, đã biến đổi thơ. Thơ Hồ Xuân Hương không cứu vãn xã hội phong kiến suy tàn. Ngược lại, chủ nghĩa thực dân thời cực thịnh, đèo theo chủ nghĩa cá nhân và chủ nghĩa lãng mạn đã thay đổi thơ Trần Tế Xương, thơ Việt Nam. Thơ Dada, thơ Siêu Thực, hệ quả, thoát thai của thế chiến một, chống chiến tranh, chống văn minh, vẫn không ngăn chặn được thế giới chiến thứ hai. Thơ không cứu nổi thơ, thơ không cứu nổi người làm thơ, nói chi thế giới. Nhưng thơ – như cỏ – vẫn mọc và có thể hữu dụng vào việc gì đó biết đâu. Ai cấm ta mơ hiệu quả cánh bướm.

 

TTD: Ông/bà đã đọc được bao nhiêu tác phẩm thuộc loại xuất bản bằng cách photocopy này rồi? Theo ông/bà, những tác phẩm ấy có đề ra khuynh hướng sáng tác nào đáng kể không? Liệu các khuynh hướng ấy có quyến rũ gì với những người mới bước vào nghiệp cầm bút trước những ngăn trở của hệ thống kiểm duyệt nhà nước?

NĐT: Trước tiên là bầu trời lông gà lông vịt của Trần Tiến Dũng. Kế là Khoan cắt bê tông gồm nhiều tác giả. Mới đây: Hai đóa hoa cho công dân hạng hai cũng của Trần Tiến Dũng. Và trước đấy, thơ jác từ jưởi, và cailonbodi & những bài thơ chửi rủa [bới, lộn] của Bùi Chát, và hầm bà lần của Khúc Duy.

Tập thơ jác từ jưởi bìa nâu. Bìa trước trống trơn, là một bức tranh trừu tượng. Bìa sau là hình vẽ một giai nhân bán khỏa thân, mang dớ đen tới bẹn, tranh Egon Schiele, một họa sĩ Áo ở Vienna vào đầu thế kỷ 20, thuộc nhóm họa sĩ “suy đồi” (Klim, Kokoschka…) bị đốt tranh trong thời Hitler. Phía dưới có ghi câu trích dẫn Tadeusz Rózewics: “Tôi không thể hiểu được tại sao thơ được phép tồn tại khi những con người tạo tác ra nó thì đã chết. Thơ sống sót buổi tận thế, làm như không có chuyện gì mới xảy ra trên trái đất này ngày hôm qua. Tôi kinh tởm sự phi lí ấy”, rút từ trang “Thơ Trung Âu” do Thường Quán chuyển ngữ, nhưng đã ghi sai/trại xuất xứ: “Tạp chí Thơ 19, mùa xuân 2000″, thay vì “mùa thu” (đúng).

 

 

Tập cailonbodi & những bài thơ chửi rủa [bới, lộn] của Bùi Chát bìa nâu non, có bức “Tranh chó” do Đinh Linh minh họa thơ Lý Đợi. Chú khuyển bị chặt làm bốn khúc, nằm vắt vẻo trên trang giấy màu cà phê sữa. Chữ “thơ” không hoa viết tay, xếp theo chiều đứng ngay dưới mõm và hai chân trước, tên tác giả “lý đợi” cũng cùng một kiểu chữ, một kiểu layout, để dưới bụng, giữa chưn trước và chưn sau. Phía dưới có thủ bút: Bản tặng anh Nguyễn Đăng Thường, Lý Đợi (chữ ký), và, Sàigòn 06.05. Bìa sau là một hình pointilliste tôi không nhận diện được. Bùi Chát cho biết tập thơ này của anh nhưng lại dùng bức tranh của Đinh Linh vẽ về thơ Lý Đợi để làm bìa “như một ý niệm về việc sử dụng sản phẩm”. Vì thế, xem ngoài bìa, độc giả có thể tưởng đó là tập thơ của Lý Đợi, nhưng khi giở vào bên trong, tất cả các số trang đều có ghi kèm tên tác giả Bùi Chát.

 

 

Tập thơ Khúc Duy bìa da cam. Bố cục ít cách tân hơn hai thi tập vừa kể, và hơi… mờ mờ nhân ảnh. Ít cải cách hơn, vì tên tác giả còn để vị trí cũ, nghĩa là trên cao. Cái tít hầm bà lần chữ lớn, đen viền trắng, nằm trên ba hình tam giác đen (Malevich?), không đồng cạnh và không bằng nhau – vẫn đặt ở giữa. Nét sổ của chữ rung rinh bóng hình, lăn tăn sóng gợn. ở trong, nơi trang thứ nhứt, ghi theo thứ tự trên dưới: KHÚC DUY – tuyển tập – HỪM BÀ LẦN (viết bằng bút nỉ đen trước khi đem photocopy), cho thấy sự biến thái linh động của ngôn ngữ, một trong các cách làm mới ngôn từ của nhóm này. Trang kế có tấm hình photo montage đen trắng chụp vú bụng đùi của một nàng ghép với con đường cỏ cao dẫn vào “Hừm” một đường hang sâu sâu mấy cũng chưa vừa bước chân mòn lãng du, cộng lời đề tặng khổ chủ. Bìa sau là hình một thằng cu Mỹ, cởi truồng, ngồi moi trái ớt hiểm của nó. Phía trên có phụ đề: And the fascination never ends!!

 

 

Bên trong cả ba tập đều có tranh, hình. Các designers (Trần Kiến Quốc và Bùi Chát cho tập thơ jác từ jưởi; Giang, Hữu Thắng, Phan Bá Thọ cho tập cailonbodi & những bài thơ chửi rủa [bới, lộn] ; còn tập thơ hầm bà lần không thấy ghi gì hết, kể cả ngày, tháng, năm xuất bản), các nhà thiết kế tỏ vẻ là những tay nhà nghề sử dụng computer. Nhìn chung, tôi thấy rất đạt trên phương diện hình thức. Nội dung, lập trường, phá miễu… đã có hoan hô đả đảo náo nhiệt rồi, nên xin để qua một bên. Tuy nhiên, nếu cần đáp lễ những lời phê bình xây dựng tôi cũng có thể thêm: Dada chưa chết, còn sung sức, và hiện có mặt toàn cầu. Ngoài ra, Mark Twain, William Faulkner… đã nói tiếng nói của người da trắng nghèo, của người da đen nô lệ ở miền Nam. Nhóm Mở Miệng cũng đang làm một công việc tương tợ. Thơ dơ không tạo rác. Thơ dơ chỉ lấy rác của chế độ liệng trả lại. Cuộc sống thường ngày ở đây là một ngày xáo chộn trong đời con hẻm 47, là cái lồn què của một con cặc tầm thường.

 

TTD: Biết rằng các tác phẩm xuất bản dưới dạng photocopy đều tới tay độc giả chỉ như một thứ quà tặng ông/bà thấy điều đó có thoả đáng không? Ông/bà có vui lòng mua một tác phẩm xuất bản dưới dạng photocopy có đề giá bán hoặc thậm chí quên đề giá bán không?

NĐT: Tôi nghĩ mua thơ tối thiểu cũng phải có hai lý do: say đắm hay khích lệ. Mấy năm trước tôi có mở một nhà xuất bản samizdat loại bỏ túi, mỗi cuốn bán 5 đô la (để xin lại tiền giấy mực cước phí) nhưng vì không hội đủ hai điều kiện trên nên đã sập tiệm. Một độc giả (duy nhất) đã tò mò đặt mua bốn cuốn. Tôi giữ tờ giấy xanh ($20) làm kỷ niệm được vài tháng thì gởi tặng lại ai đó quên rồi. Cả sự nghiệp văn chương vĩ đại của tôi tới nay đã thu hoạch được số lợi nhuận chung to tát là 50 đô la, kể luôn 20 đô la bán sách, và một ngân phiếu 15 đô la thiếu một chữ ký của hai vị chủ biên nên vô dụng, tôi cất làm “kỷ vật cho em” nhưng đã thất lạc khi dời nhà.

 

TTD: Cám ơn sự cộng tác của ông/bà.

Đăng trong Văn học | Leave a Comment »

“Une nouvelle poésie vietnamienne: Emergence d’une nouvelle poésie à Saigon”

Đăng bởi Hoàng Vinh on Tháng Năm 7, 2007

Une nouvelle poésie vietnamienne

Emergence d’une nouvelle poésie à Saigon

Vingt ans après l’avènement du  ?i M ?i, mouvement de renouveau économique et culturel lancé par le parti communiste sous l’influence de la perestroïka soviétique, les écrivains controversés d’alors – de B ?o Ninh, Duong Thu Huong, Nguy ?n Huy Thi ?p à Ph ?m Th ? Hoài – sont devenus classiques au regard d’une nouvelle génération d’auteurs qui prend forme.

Un des témoignages vivants de la nouvelle dynamique littéraire et de la mutation de la société vietnamienne actuelle : le groupe M ? Mi ?ng (Ouvrir la bouche), récemment fondé à HoChiMinh-ville, ancien Saigon, par Ly’  ?i, Bùi Chát et plusieurs jeunes poètes marginaux qui, diplômés d’université, ont choisi de vivre sur le trottoir, dans les taudis, les marchés aux puces, les bars, les gargotes, au milieu de la violence et du sexe. Ce groupe autour duquel gravitent d’autres poètes et poétesses comme Nguy ?n Qu ?c Chánh, Phan Bá Th ?, Lynh Bacardi,… revendique, comme le suggère son nom, la liberté d’expression, la marginalité et le désir de rendre à la poésie sa forme orale. « Ouvrir la bouche » pour redonner au poète sa mission originelle : comme les aèdes de la Grèce ancienne, ils errent dans les rues (ou sur les pages web) pour raconter la vie de tous les jours. Peu leur importe que le monde soit sans signification, ils le décrivent tels qu’il est. Alors qu’au Vietnam, la plupart des écrivains ont la bouche fermée selon le proverbe vietnamien « ng ?m mi ?ng an ti ?n » (je me tais et j’encaisse), ces poètes attaquent directement le pouvoir.

Ils appellent leur poésie « tho rác » (poésie-ordure), « tho nghia d ?a » (poésie-cimetière), « tho do » (poésie-saleté), pour désigner son caractère non officiel, anti-esthétique, de récupération, d’où le nom de leur propre maison d’édition « Gi ?y V ?n » (papier usagé). Leur œuvre qui n’existe que sous forme de photocopies et sur internet pour contourner la censure, recourt à des procédés techniques classiques tels le pastiche, la parodie, ou post-modernistes tels « copier-coller », « mixer », « cut up », emploie un vocabulaire familier, brut, parfois vulgaire, composé de termes d’argot, de paroles courantes, du langage direct. Pour ces poètes, une création artistique est avant tout un produit de consommation et d’information, d’où l’importance qu’ils accordent à l’usage et à l’appropriation du texte. A partir d’un poème connu ou des slogans, ils travaillent par exemple à en détourner l’émotion et l’objectif. Chez eux, poésie et internet se marient de façon merveilleuse, étant tous les deux l’instantanéité, la rapidité, la spontanéité. La liberté tout simplement. Internet est une immense masse de données. Et c’est en fouillant cette décharge, en recomposant des textes et des images, que le poète fait surgir une parole plus vraie, plus libre.

Depuis sa naissance, M ? Mi ?ng anime de manière formidable la vie littéraire au Vietnam et celle de la diaspora parce qu’il a proposé une nouvelle conception poétique, en s’opposant non seulement à la tradition qui veut que la littérature soit portée par un projet d’édification, mais aussi à la poésie contemporaine, ses règles, sa rhétorique et sa sentimentalité devenues académiques.

L’émergence à Saigon, trente ans après la fin de sa « chute », d’une nouvelle poésie en dit long sur sa capacité de renaître et son caractère pionnier. M ? Mi ?ng n’incarnerait-t-elle pas la désinvolture de la métropole du Sud, la plus grande ville du pays du point de vue économique, commercial et démographique, mais souvent sous-estimée par Hanoi, la capitale communiste hautaine et doctrinaire ?

J’aimerais présenter ici deux poèmes écrits en 2005 par Nguy ?n Qu ?c Chánh, un des inspirateurs du mouvement, que j’ai traduits et annotés. Certains de ses textes ont été publiés en anglais dans les revues The Literary Review et Filing Station, ainsi que dans un recueil intitulé Three Vietnamese Poets (Honolulu, Hawaii, TinFish Press, 2001).

Doan Cam Thi


Deux textes de Nguy ?n Qu ?c Chánh, traduits par Doan Cam Thi

Des citoyens du monde coincés dans la ruelle 47

 [Nous sommes des citoyens du monde, parce que tous nous avons des cheveux et des dents, certains, coquets, une barbe ou un crâne rasé, un téléphone portable la plupart du temps. Avec un odorat subtil, nous flairons tout ce qui empeste. Nous admirons le mot Being des Treize manières d’un merle . [2] Nous sommes fiers du caractère Tr ?m [Bien-pensants, je vous encule !

Si « Vesicle » est le mot anglais le plus beau selon le poète inh Linh, le vietnamien en a trois : L ?n (con), C ?c (bite) &  ? (forniquer). Apparus en même temps que fesse, joue, nez, bouche, manger, dormir, ils sont devenus âm h ? (vulve), duong v ?t (pénis) & giao h ?p (coïter), après dix siècles de mijotage dans la marmite chinoise. Séparés de fesse, de joue…, L ?n, C ?c &  ? survivent désormais sur le trottoir au milieu des vendeuses d’œufs de cane couvés, des chauffeurs de cyclo-pousse et des prostituées. Si Jésus avait demandé aux Pharisiens : « Que celui d’entre vous qui n’a pas forniqué avec elle lui jette la première pierre » (et leur honte avait finalement sauvé Marie-Madeleine de la lapidation), pourquoi n’existe-t-il pas une honte qui rendrait justice à L ?n, C ?c &  ? ? Lorsque j’ai les yeux fermés (mon âme étant en harmonie avec mon corps), ceux-ci apparaissent devant moi comme des astres, des objets sacrés qui puisent leur énergie des émotions grandioses et des activités mystérieuses. Echo des tambours et des cloches de l’homme primitif, L ?n est aussi l’aube qui paraît sur l’océan. Si vous n’y croyez pas, allez vérifier ! Adressez-vous alors à la mémoire des rois Hùng, au soleil qui se lève sur Mui Né, à la cloche de la pagode de la Dame céleste et au tambour de bronze de Ng ?c Lu. Quant à moi, je contemple le soleil levant sur la mer et songe à l’immense pouvoir de L ?n. (Et mes dix expériences différentes ont toujours donné le même résultat). Je prononce L ?n et entends son écho résonner des anciens tombeaux, du cœur miséricordieux de Bouddha, des souvenirs égarés du passé. Au cours de la dernière décennie, après trois ruptures et un divorce, j’ai fini par copuler avec le sable. Souvent, étendu sur la plage, les yeux mi-clos, je regarde avec quiétude le soleil qui se lève. Aussitôt j’y observe un changement de couleur : l’astre en rouge ardent se transforme en une cavité noire, brillante et obsédante. Dans mes veines, le sang s’accélère et les meilleurs globules rouges se précipitent vers le bas ventre. Voilà que ma bite se réchauffe et se tend. Qu’elle est émue. Qu’elle est heureuse. Les mains agrippées à la grève, le ventre bien à l’horizontale, la bouche restée béante à cause de grains de sable, je me mets à tourner les fesses, de gauche à droite. Au bout des neufs premiers tours, je fornique une fois. Neufs tours encore, je fornique deux fois. Neuf tours encore, je fornique trois fois. Puis je fornique à chaque tour, à chaque demi-tour. Enfin, je m’immobilise puis fornique continuellement (Holà, ne croyez pas que je fornique comme un chien ou un cheval ! C’est en rythme que je le fais). Au cours des neufs premières pénétrations, musique royale (des amateurs). Les neufs suivantes, musique d’avant-guerre (des aventuriers). Les neufs d’après, musique de la Résistance (des commandos). Les neufs dernières, musique d’après-guerre (des suicidaires). (Cependant les chansons de Tr ?nh Công Son ne me donnent jamais envie de forniquer). Après des mélodies vietnamiennes, je suis inspiré par différents airs étrangers : des battements de tambour hypnotiques de Kitaro, des hurlements du vent projetés par la guitare de Hoàng Ng ?c-Tu ?n, du Techno-acoustic Fusion de la violoniste Vanessa Mae à taille de guêpe dont le Red hot signe l’épuisement de mon répertoire musical et met fin à mes fornications. Et voilà qu’une vague déferle et me retourne. S’effacent en moi instantanément tous concepts et toutes doctrines. C’est la liberté que je respire maintenant. Les meurtrissures, des milliers de fois, m’ont conduit au coït avec le sable. Ma bite s’est mue, après de longues années d’entraînement, en une superpuissance qui peut faire éclater un bananier âgé de huit mois, exploser une bouteille de bière made in Saigon, crever une noix de coco de B ?n Tre, sauter la pagode au Pilier unique de Hanoi et péter la tête de tous les bien-pensants. Forniquer, quel mot magique ! [

Quelques notes

La photographie qui figure en tête de cet article est celle d’un mur public à Saïgon, reproduit en couverture du recueil de poésie, paru en octobre 2005 à Saigon, dont sont extraits les deux textes présentés. Elle figure sur le site de Tien Ve (Avant-Garde), site particulièrement intéressant, où l’on trouve les poèmes les plus récents de Nguyen Quoc Chanh, dont ceux qui sont ici traduits.

Enfin, il existe deux ouvrages de poésie vietnamienne imprimés et traduits en français, qui pourront donner un aperçu du champ dans lequel émerge – et dont se détache – la nouvelle poésie vietnamienne.

- Anthologie de la poésie vietnamienne. Le chant vietnamien. Dix siècles de poésie, collectif, collection Unesco d’oeuvres représentatives, Unesco, 1981.

- Mille ans de littérature vietnamienne, collectif, Arles, Ed. Philippe Picquier, 1996.


[1] A travers un mélange de différents genres – récit, essai, poème en prose – un ton mélancolique, un goût prononcé pour la dérision et l’autodérision, une sensibilité anarchisante, Nguy ?n Qu ?c Chánh exprime la force des écrivains qui, coincés dans une impasse, n’ont plus que les mots comme raison d’être. Le poème traduit d’autre part la rencontre brutale, tragique peut-être mais ô combien stimulante, entre la culture vietnamienne restée plus ou moins stricte, tant par son caractère profondément rural que par le contrôle politique, et la mondialisation incarnée par l’émergence de la technologie informatique, en particulier de l’internet. En se demandant : « Comment être à la fois vietnamien et citoyen du monde ? », le poète essaie en effet de penser le Vietnam non seulement dans ses problèmes internes mais de le libérer du nationalisme étouffant qui jalonne toute son histoire, afin de s’interroger sur son rapport à l’extérieur. Et c’est dans cette dimension historique que réside l’extraordinaire modernité du poème.

[2] Titre du poème “Thirteen ways of a blackbird” de Wallace Stevens

[3] Ce caractère en chinois a le sens de couper, trancher, décapiter.

[4] Roman chinois classique

[5] Depuis 1945, date de la fondation du régime communiste au Vietnam, le terme Oncle en majuscule est réservé exclusivement par les autorités pour désigner Ho Chi Minh.

[6] Nouvelle célèbre de l’écrivain vietnamien Nam Cao.

[7] Ce poème cru mais hilarant décrit un coït fantastique avec le sable qui n’est pas sans rappeler celui du Robinson du Vendredi ou les limbes du Pacifique qui dans la solitude, fait l’amour avec un arbre. Cependant, alors que le héros de Tournier satisfait ses besoins sexuels, le poète vietnamien attaque les tartufes. Avec une très grande audace dans le choix du vocabulaire, l’accélération du rythme, l’explosion de la phrase, le texte de Nguy ?n Qu ?c Chánh est à la fois fantaisie érotique, commentaire méta-linguistique et acte social.

Đăng trong Văn học | Leave a Comment »